Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

--------*&*---------

“V/v – Xin xét xử theo trình tự thủ tục giám đốc thẩm yêu cầu huỷ bỏ bản án số 08/DSPT ngày 18/5/2004 của TAND Tỉnh Hà Nam đã cố ý làm trái quy định của Pháp luật gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”

Kính gửi:     - Ông Nông Đức Mạnh  - Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam

            - Ông Nguyễn Phú Trọng  -  chủ tịch Quốc hội.

- Nguyễn Tấn Dũng  -  Thủ tướng chính phủ.

          - Ông Trương Hoà Bình  -  Chánh an TAND tối cao.

- Ông Trần Quốc Vượng  -  Viện Trưởng VKSND tối cao.

Công dân Bạch Thị Quý, sinh năm 1949

- Hộ khẩu thường trú tại: Nhà số 3, đường Lê Lợi, Phường Lương Khánh Thiện, Thị xã Phủ Lý, Tỉnh Hà Nam.

* Căn cứ vào điều 52, điều 74, điều 91 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Được sửa đổi, bổ sung năm 2001)

* Căn cứ vào điều 363, điều 707, điều 708, điều 709, điều 710, điều 712, điều 713 Bộ Luật dân sự (năm 1995)

* Căn cứ vào điều 5, điều 24, điều 168 và điều 12 Bộ Luật Tố Tụng dân sự (năm 2004)

* Căn cứ vào điều 136 Luật đất đai (năm 2003)

* Căn cứ vào điều 282 Bộ Luật hình sự (năm 2000)

Tôi tố cáo

1. Ông Hoàng văn Giáp, Thẩm Phán TAND thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

2. Bà Lại Thị Hoa, Phó Chánh Toà dân sự. TAND tỉnh Hà Nam.

3. Bà vũ Thị Thanh Vân, Kiểm Sát Viên VKSND thị xã Phủ Lý tỉnh Hà Nam.

4. Bà Quách Thị Sang, Kiểm Sát Viên VKSND tỉnh Hà Nam.

Các ông/bà (Giáp + Hoa + Vân + Sang) là những người tiến hành tố tụng dân sự đã cố ý làm trái Pháp Luật trong hoạt động tố tụng dân sự – Có hành vi phạm tội quy định tại điều 282 “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” và Điều 284. “Tôi giả mạo trong công tác” (BLHS). Họ đã “Ngụy tạo” (Nguyên đơn không có thật) để Tư Pháp - Hoá sự việc không thuộc thẩm quyền của Toà án giải quyết với những chứng cứ “giả mạo”Lấy cớ “Ngậm máu phun người” bằng các bản án số 05/DS ngày 12/12/2003 và bản án số 8/PTDS ngày 18/5/2004 Tuyên:

- Vô Hiệu hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp của vợ chồng tôi ( Quý + Kình) với cụ Bạch Đô Lương nhằm tiếp tay cho Đặng Công Tường, Lê Thanh Hải (con trai Lê Thanh Nhàn, viện trưởng VKSND tỉnh Hà Nam) Công Nhiên chiếm đoạt 1.738,5m2 đất thuộc quyền định đoạt của vợ chồng tôi. Và đã bắt trói con trai tôi đánh đập giã man phải đưa đi bệnh viện tỉnh cấp cứu.

- Vậy tôi làm đơn tố cáo này kêu cứu khẩn cấp đến Quý ông/bà, căn cứ vào quy định của Hiến pháp và Pháp luật trả lại sự công bằng cho tôi và công lý cho toàn xã hội như các cơ quan Thông Tấn, Báo chí đã nêu – Sớm huỷ bỏ 2 bản án trên.

Nội dung và căn cứ tố cáo cụ thể như sau:

Phần – I

I. Tố cáo hành vi lạm quyền trong khi thi hành công vụ, của các ông/ bà (Giáp + Hoa + Vân + Sang).

Nội dung: Ngày 8/6/2002 vợ chồng tôi (Bạch Thị Quý + Phạm Ngọc Kình) cùng vợ chồng cụ (Nguyễn Thị Nga + Bạch Đô Lương) có ký Giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sở dụng đất. Trên cơ sở tự nguyện bình đẳng tuân theo điều 707, điều 708 Bộ Luật dân sự (BLDS) năm 1995 quy định - cụ thể:

- Bên chuyển quyền sử dụng đất vợ chồng cụ (Nga + Lương) đã thực hiện đúng các quy định tại điều: 709, điều 710 Bộ luật dân sự giao đúng, giao đủ, diện tích đất 1.738,5m2 theo hợp đồng giao kết có căng giây Lập bờ rào không có tranh chấp với bất cứ ai cho vợ chồng tôi sử dụng.

- Bên nhận chuyển quyền sử dụng đất vợ chồng tôi (Quý + Kình) đã trả đủ số tiền giao kết trong hợp đồng là 129, triệu đồng đúng như thoả thuận cho bên chuyển quyền cụ (Nga + Lương). Theo điều 712 (BLDS)

Khi hợp đồng giao kết chuyển quyền sử dụng đất giữa cụ lương với tôi (Quý) trình lên UBND phường Quang Trung xin làm thủ tục đăng ký theo quy định của Pháp Luật về đất đai. Ông Lê Mạnh Hùng chủ tịch UBND phường thông báo cho chúng tôi biết: “Chờ làm thủ tục cấp sổ đỏ cho nhiều hộ trong cùng khu vực luôn một thể”.

Trong thời gian chờ đợi cấp “Sổ đỏ” (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hai gia đình bến bán (Cụ Lương). Bên mua vợ chồng tôi (Quý + Kình) có sự hiểu lầm nho nhỏ với nhau đã được UBND phường Quang Trung, thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tổ chức hoà giải thành ngày 19/12/2003. Trong biên bản – Hoà giải thành. Cụ Bạch Đô Lương đã ký cam kết tuân thủ thực hiện hợp đồng đã ký giao kết với vợ chồng tôi đề ngày 8/6/2002.

* Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của: Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, Văn Phòng Nội Chính Tỉnh Uỷ, Văn Phòng Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam  văn bản của Quốc Hội. Ông Đỗ Văn Sáng, chủ tịch UBND thị xã Phủ Lý Tỉnh Hà Nam đã ký đóng dấu xác nhận quyền sử dụng 1.738,5m2 đất cụ Bạch Đô Lương chuyền quyền sử dụng cho vợ chồng tôi (Bạch Thị Quý + Phạm Ngọc Kình).

- Từ Những căn cứ trên xác định: 1.738,5m2 đất cụ (Lương + Nga) chuyển quyền sử dụng cho vợ chồng tôi sử dụng là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp Luật. Quyền định đoạt 1.738,5m2 đất này thuộc vợ chồng tôi. Là chủ sở hữu theo  điều 201 (BLDS). Cụ (Nga + Lương) không còn quyền định đoạt theo Luật định.

   

Ngày 16/10/2002. Một số viên chức của Viện kiểm sát tỉnh Hà Nam do: Đặng Công Tường, đứng đầu cùng Lê Điện Biên, Lê Thanh Hải (Hải là con đẻ của ông Lê Thanh Nhàn, viện trưởng VKSND tỉnh Hà Nam) và tên Thành - rất trắng trợn giở thói côn đồ “Cướp ngày” chở hai Thuyền đá, cát, xi măng và thợ đến lô đất của Tôi mua của cụ Bạch Đô Lương “Công nhiên xây nhà trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình tôi được Nhà nước bảo hộ”. Khi con trai tôi (Phạm Ngọc Thành) đến hỏi chúng đã bắt trói lại rồi đánh đập giã man phải đưa đi bệnh viện tỉnh cấp cứu.

Sự việc trên đã được UBND phường và công an phường Quang Trung, thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam lập biên bản và quyết định đình chỉ việc xây dựng của chúng.

Trong văn bản Hoà giải thành ngày 2/5/2003. Ông chủ tịch UBND phường Quang Trung Tái Khẳng Định nguyên văn: “Hành vi cố ý coi thường chính quyền của bà Phạm Thị Ngân (bà Ngân – mẹ đẻ ra Đăng Công Tường, tên cầm đầu “Cướp ngày” đất của tôi ngày 16/10/2002 – Bà đã tạo dựng một hợp đồng giả không có thật - mua đất của Cụ Lương ngày 20/10/2002) Hợp đồng không được chính quyền xác nhận, không có giấy phép xây dựng đã 3 lần UBND phường công an phường lập biên bản đình chỉ xây dựng vẫn cố tình xây…” (Xin gửi kèm đơn những chứng cứ trên)

Sau ngày hoà giải Thành của UBND phường Quang Trung bọn (Tường + Biên + Hải+ Thành) và bà Phạm Thị Ngân biết không dùng “bạo quyền” của cơ quan giữ quyền công Tố và giám sát pháp Luật để chiếm đoạt được 1.738,5m2 đất của vợ chồng tôi. Chúng đã nhờ vả ông Đinh Ngọc Bách, ông Bạch Mạnh Thái, Trưởng Thôn làm trung gian xin mua lại với giá 500, rồi 510, triệu đồng. Vợ chồng tôi cũng không bán (xin gửi kèm chứng cứ) Và:

Căn cứ lời khai của bà Phạm Thị Ngân (Trang 4 bản án số 08/PTDS ngày 18/5/2004). Tôi xin trích dẫn: “Ngày 16/10/2002 cụ Lương có gọi bà đến và nói: “Chị Quý trả lại đất, đòi lại tiền”. Và cụ hỏi bà có mua không thì bán…”

Với lời khai trên trước Toà của Thị Ngân, cùng một thời điểm là ngày 16/10/2002. Bà Ngân và cụ Lương chỉ giới hạn trong khuôn khổ dập dạp chao đổi việc mua và bán. Nghĩa là chưa xác lập hợp đồng; chưa có Thôn, xóm (người thứ 3 làm chứng) vậy mà: Con trai của bà (Đặng Công Tường cùng đồng bọn) đã chở vật liệu đến xây nhà trên đất của tôi – còn đánh con tôi trọng thương…

* Đặng Công Tường + Lê Điện Biên + Lê Thanh Hải + Thành, lấy Lý gì? chứng cứ nào để xác định, 1.738,5m2 đất của tôi – thuộc quyền sử dụng của họ – ngang nhiên chở vật liệu đến xây nhà ! ? ” Hơn nữa ngay cả Hợp đồng (Bà Ngân mẹ của Tường) giả mạo  - mua với cụ Lương đã được khẳng định tại biên bản Hoà Giải thành cũng ghi rõ: Hợp đồng được xác lập là ngày 20/10/2002. Sau thời điểm Đặng Công Tường xây nhà trên đất của tôi (ngày 16/10/2002) là 5 ngày.

Từ những chứng cứ xác định cụ thể trên nếu Pháp Luật nghiêm minh – Công bằng “Không bỏ lọt tội phạm” thì các cơ quan Tố Tụng gồm: (VKSND + TAND) tỉnh Hà Nam phải Truy Cứu trách nhiệm hình sự đối với (Tường + Biên + Hải + Thành) về hành vi vi phạm pháp Luật – có dấu hiệu phạm tội quy định tại các điều 137 + 104 Bộ Luật hình sự của Nước cộng hoà XHCN Việt Nam.

Song thật trớ trêu! hai cơ quan (VKSND + TAND) Tỉnh Hà Nam lại cấu kết liên minh “Ma + Quỷ” đã không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn, thấp hèn nào để bao che, lấp liếm hành vi phạm tội của bọn ( Tường + Biên + Hải + Thành và tiếp tay cho những kẻ phạm tội được quyền sử dụng tài sản do hành vi phạm tội mà có. Bằng cách: “Tư Pháp - Hoá” sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình Tuyên Vô Hiệu hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất ngày 8/6/2002 của vợ chồng tôi (Quý + Kình) với vợ chồng cụ (Lương + Nga) bằng 02 bản án Trái Luật số 05/DS ngày 12/12/2003 và số 08/PTDS ngày 18/5/2004.

Những người tiến hành tố tụng dân sự của ngành Toà án, VKS tỉnh Hà Nam – cố tình coi thường Quốc Pháp – Họ lợi dụng chức danh công quyền được Đảng, nhân dân giao phó (giữ quyền Công Tố, Giám Sát pháp Luật và xét xử) lại là những kẻ “Ngậm máu phun người” biến trắng thành đen – biến đêm thành ngày, tiếp tục Thực Thiện giã Tâm chiếm đoạt 1.738,5m2 đất của tôi cho bọn Đặng Công Tường, Lê Thanh Hải (con Viện trưởng VKS tỉnh Hà Nam) trước đó chúng đã dùng bạo lực “Cướp ngày” ngày 16/10/2002 không thành sau đó lại nhờ trung gian mua giúp trả giá cao gấp gần 4 lần cho tôi so với khoản tiền tôi đã trả cụ Lương 129, triệu đồng để (Chạy tội xây nhà trái phép trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tôi và đánh con tôi gây thương tích) vợ chồng tôi vẫn không đồng ý bán cho chúng.

Nay VKS + TA. Ngụy tạo nguyên đơn. Giả mạo chứng cứ Tuyên:

- Vô hiệu hợp đồng (mua bán) chuyển quyền sử dụng đất của tôi với cụ Lương là đồng nghĩa – VKS + TA tỉnh Hà Nam đã Xoá được vật chứng (tang vật) đối tượng của hành vi phạm tội “công nhiên chiếm đoạt tài sản” và tội “ cố ý gây thương tích” do bọn (Tường + Biên + Hải + Thành) đã gây ra đối với gia đình tôi. Ngược lại vợ chồng tôi (Quý + Kình) đương nhiên trở thành người Tố cáo sai sự thật – Phạm tội vu khống: “Bịa đặt tố cáo bọn Tường + Biên + Hải + Thành phạm 2 tội danh nêu trên đến các cơ quan có thẩm quyền – xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của họ” - VKS – TA tỉnh Hà Nam sẵn sàng – Khởi Tố và truy tố – xét xử bắt vợ chồng tôi tống vào lao tù bất cứ lúc nào về tội: dám “Vu Khống” đồng chí đồng đội của họ và con trai của vị Viện Trưởng VKSND tỉnh Hà Nam.

Vì các lẽ trên: Tôi khẩn cầu Kêu cứu gửi lên:

- Ông Tổng bí thư. Các ông/ bà trong Bộ Chính Trị – Ban bí thư TW Đảng.

- Ông Chủ tịch Quốc Hội. Các ông/bà Uỷ viên Uỷ ban Thường Vụ Quốc Hội.

- Ông thủ tướng Chính Phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam

- Ông Chánh án Toà án nhân dân tối cao

- Ông Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Căn cứ vào quy định của Pháp Luật – xem xét giải quyết Minh Bạch – công Bằng về hành vi phạm tội:

“Lạm quyền trong khi thi hành côngvụ” – của ông Hoàng Văn Giáp, bà Lại Thị Hoa, bà Vũ Thị Thanh Vân, bà Quách Thị Sang với những chứng cứ được xác định cụ thể như sau:

Thứ nhất: Theo điều 5 khoản 1 + 2 Bộ Luật tố tụng dân sự (BL.TTDS) Quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu TA…giải quyết việc dân sự…trong quá trình giải quyết…các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình…

- Viện Kiểm Sát + Toà án tỉnh Hà Nam: Dựng cụ Bạch Đô Lương làm bên nguyên đơn…là trái với Luật định vì: Quyền định đoạt tài sản (1.738,5m2 đất) cụ Lương bán cho vợ chồng tôi đã được cấp có thẩm quyền chứng nhận thuộc về tài sản của chúng tôi theo điều 201 Bộ Luật dân sự. Cụ (Lương + Nga) không có quyền định đoạt.

Giả Thuyết: Cụ Lương có đơn kiện thật thì Toà phải có nghĩa vụ và trách nhiệm giải thích cho cụ và trả lại đơn khởi kiện cho cụ theo quy định tại điều 168 (BLTTDS) quy định tại khoản (b).

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện. (Cụ đã lấy đủ tiền 129, triệu đồng của vợ chồng tôi giao theo giao kết trong hợp đồng – Và cụ cũng là người tái khẳng định việc tuân thủ thực hiện hợp đồng tại biên bản hoà giải thành ngày 19/12        /2003.

Thứ hai – Trong bản án số 05/DS ngày 12/12/2003 của TA thị xã Phủ Lý và bản án số 08/PTDS ngày 18/5/2004 đều khẳng định: Đất của cụ (Nga + Lương) “chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, cụ Bạch Đô Lương đã vi phạm điều 30 Luật đất đai quy định…” (Trích trang 3 bản án số 05 - Toà sơ thẩm phần Hội đồng xét xử nhận xét) và cuối trang 5 đầu trang 6 + 7 bản án phúc thẩm khẳng định: Hợp đồng của chúng tôi là hợp pháp, nhưng lại phủ quyết biên bản: Hoà giải Thành và văn bản ông Đỗ Văn Sáng chủ tịch UBND thị xã ký đóng dấu: Xác nhận việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 1.738,5m2 đất cho vợ chồng tôi (Quý + Kình) sử dụng. Bản án chỉ nêu: “Vợ chồng ông Lương đã nhận đủ tiền của vợ chồng ông Kình nhưng lại thay đổi quan điểm xin huỷ hợp đồng và hoàn trả tiền…Là điều không nên. Vợ chồng ông Lương cần phải nghiêm khắc rút kinh nghiệm.”

Tại sao Toà Phúc thẩm không áp dụng điều 363 (BLDS) đối với ông Lương tự ý bỏ giao kết thực hiện hợp đồng đã ký, đã nhận tiền của vợ chồng tôi. Trong khi bản án sơ thẩm, phúc thẩm Viện dẫn hàng loạt điều nọ khoản kia của các bộ Luật thì điều 363 Lại Quên ! ? ” và cũng Quên luôn điều 136 Luật đất đai quy định tại khoản (2) chanh chấp quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Đất của cụ Lương được Toà xác định chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp…đã vi phạm Luật) như vậy:

VKS + TA thị xã Phủ Lý biết rõ (đơn của cụ Lương nếu có) cũng không có căn cứ quy định tại khoản 1 điều 136 (LĐĐ) làm căn cứ thụ lý xét xử vụ án.

* Thẩm quyền giải quyết đơn của cụ Lương thuộc UBND các cấp: Huyện, Thị, Tỉnh, Thành Phố, Bộ tài nguyên Môi trường là cơ quan Hành Pháp chứ không thuộc quyền cơ quan Tư pháp.

Nếu không vì lợi ích thiết thực của một số người sống làm việc trong cơ quan VKSND tỉnh Hà Nam trong đó có con đẻ của Viên Viện trưởng VKSND tỉnh đã trót cướp đoạt đất của tôi xây nhà để ở tôi khẳng định: Sẽ không có bất cứ bản án nào vô hiệu được hợp đồng giữa tôi và cụ Lương đã được thực hiện hoàn tất theo luật định.

Từ những chứng cứ trên. Kính mong Quý ông, Quý bà phán xét hành vi vi phạm pháp luật: Về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” do các ông: Giáp và các bà (Hoa + Vân + Sang) đã gây ra cho gia đình tôi sớm huỷ bỏ 2 bản án trái pháp Luật trên trả lại quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của gia đình tôi được Nhà nước bảo hộ.

II. Tố cáo ông Hoàng Văn Giáp và các bà (Hoa + Vân + Sang) dựng nguyên đơn – không có thật, giả mạo chứng cứ trong hoạt động Tư Pháp (Tiến hành tố tụng dân sự) làm căn cứ Tuyên án “!?”

Căn cứ bản án số 05 và số 08 do ông Hoàng Văn Giáp và bà Lại Thị Hoa Tuyên ngày 12/12/2003 + Ngày 18/5/2004 thể hiện.

- Đồng nguyên đơn cụ: Nguyễn Thị Nga – 91 tuổi, cụ Bạch Đô Lương 91 tuổi (Cả hai cụ đều không biết chữ)

- Khi hai cụ được triệu tập ra Toà với tư cách là Nguyên đơn – Kiện đòi huỷ hợp đồng giao kết mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất với vợ chồng tôi (Bạch Thị Quý + Phạm Ngọc Kình)

Tại Toà: Cụ Bạch Đô Lương một mực kêu lên Hội đồng xét xử rằng: “TôI Không kiện cáo ai cả. Các người muốn đưa tôi đI đâu thì đưa” (Xin gửi chứng cứ băng ghi âm tại Toà lời nói của cụ Lương)

- Căn cứ Điều 168 (BL.TTDS)

1. Toà phải trả lại đơn cho người khởi kiện bởi lẽ:

a) Cụ Lương không có quyền định đoạt 1.738,5m2 đất khi đã giao kết bán cho tôi đã nhận đủ tiền. (129 triệu) Quyền định đoạt thuộc vợ chồng tôi.

b) Cụ Lương đã khẳng định trước Toà, “không kiện cáo ai cả” - Nghĩa là Cụ tự rút quyền nguyên đơn tại Toà (Nếu có đơn).

c) Tuổi tác của hai cụ đã trên 91 tuổi. Mắt mờ, tai điếc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. (về thể chất)

d) Sự việc đã được giải quyết bằng văn bản có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Văn bản hoà giải Thành của UBND phường và xác nhận của UBND thị xã Phủ Lý ông Đỗ Văn Sang chủ tịch ký).

đ) Không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án (Toà đã nhận xét đất của cụ Lương chuyển nhượng là vi phạm Luật đất đai - đất chưa được cấp sổ đỏ. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết thuộc cơ quan hành pháp: UBND các cấp Huyện, Thị Xã, Tỉnh, Thành Phố – Bộ Tài Nguyên Môi Trường theo khoản (2) điều 136 Luật đất đai.

2. Cụ Bạch Đô Lương đã cố tình cự tuyệt không thừa nhận mình là nguyên đơn có lý của Cụ vì Cụ cũng ý thức được:

Về tình: Vợ chồng tôi cùng giòng họ là con cháu của cụ. Không có xích mích, hỗn láo với các cụ để các cụ phật ý đã bán đất, nhận tiền của chúng tôi lại đòi lại bán cho người ngoài (Phạm Thị Ngân – mẹ đẻ Đặng Công Tường) cùng diện tích đất ấy, cũng số tiền 129, triệu đồng. Đất không giảm, tiền cũng không tăng “! ?” để cho Toà nay triệu tập, mai triệu tập - Cụ được cái gì? hay phải mất thêm 1.919.000, đồng án phí + 54.566.700, đồng theo bản án phúc thẩm đã tuyên “!?”.

Về lý: Theo điều 363 (BLDS) Quy định rõ tại khoản (2): “Trong trường hợp hợp đồng giao kết, thực hiện…Nếu bên nhận đặt cọc (nhận tiền) từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng, thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc…”

- áp theo khoản 2 điều 363 Viện dẫn trên. Cụ Lương đã nhận 129, triệu đồng của vợ chồng tôi giao. Nay Cụ từ chối việc giao kết không thực hiện hợp đồng đã ký và cam kết tại biên bản hoà giải thành. Cụ Lương không chỉ trả vợ chồng tôi 129, triệu còn phải trả cho chúng tôi một khoản tiền tương đương là 129 triệu đồng nữa tổng cộng 258, triệu đồng.

Lẽ nào cụ Lương, kiện đòi huỷ hợp đồng của vợ chồng tôi để tặng không, biếu không cho mẹ con nhà Phạm Thị Ngân + Đặng Công Tường 1.738,5m2 đất đã bán cho chúng tôi hay sao? Đồng thời cụ Lương lấy đâu ra 129 triệu đồng nữa để trả cho vợ chồng tôi theo quy định của điều 363 khoản (2).

Chính vì những Lý và Lẽ trên Cụ Bạch Đô Lương tại Toà không chấp nhận mình là nguyên đơn của vụ án dân sự. Việc Toà án + Viện Kiểm sát thị xã Phủ Lý và tỉnh Hà Nam đưa cụ Bạch Đô Lương và cụ Nguyễn Thị Nga làm nguyên đơn là cố ý “Ngụy tạo” một nguyên đơn không có thật – lấy “cái bóng” của 2 cụ nhằm hợp pháp hoá vụ án theo quy định của pháp luật.

Một vụ án dân sự: Tại Toà không có nguyên đơn, người được Toà xác định là nguyên đơn lại từ chối thẳng thừng ngay trước mặt Quan Toà. Còn có sự lố bịch nào bằng.

- Vợ chồng tôi kính mong được các ông/bà có thẩm quyền cần: Có giải pháp Xử lý thật nghiêm minh - đúng Pháp luật đối với: Hoàng Văn Giáp + Lại Thị Hoa người tuyên 02 bản án trên và Vũ Thị Thanh Vân, Quách Thị Sang Kiểm Sát Viên đã không tuân thủ thực hiện các quy định của Pháp luật có hành vi phạm tội: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ – theo điều 281 (BLHS).

- Song hành với “Ngụy tạo” nguyên đơn những người tiến hành tố tụng dân sự Vụ án – còn đưa ra các chứng cứ giả mạo làm căn cứ Tuyên vô hiệu hợp đồng của tôi cụ thể:

1. Không có chuyện ông Kình (Chồng tôi) có mời một số người như ông Minh, ông Ngôn…để tuyên bố trả lại đất đã mua và yêu cầu cụ Lương trả lại 129 triệu đồng trong thời hạn 10 ngày. (trang 1 bản án sơ thẩm) – xin gửi kèm chứng cứ.

Cũng không có quan điểm nào của cụ Lương khai với Toà “Cụ bán đất có sai phạm pháp Luật” và “Cụ đề nghị Toà án huỷ hợp đồng mua bán đất giữa Cụ và gia đình ông bà Kình – Quý, Cụ còn đề nghị Toà án giải quyết đúng pháp luật” đây là – Sự bịa đặt của Giáp + Vân vì:

 Cụ Lương đang có cuộc sống ổn định, yên lành ở cái tuổi được mang: 4 chữ thượng thọ (91tuổi), lại tự mua giây buộc mình. (Làm đơn kiện…..kiện để cụ được cái gì, cụ bán đất cho tôi 129 triệu đồng đã nhận tiền, đòi lại bán cho người khác cũng cái giá 129 triệu diện tích đất bán vẫn không thay đổi “!?”

- Hay cả cuộc đời cụ Lương sống đến 91 tuổi chưa biết chốn quan trường như thế nào, nên Cụ thử xem sao. Kết cục là Cụ đã phải trả cái giá quá đắt mất 56.485.700đồng gồm án phí + tiền chênh lệch Toà phúc thẩm đã tuyên. Mất ngần ấy tiền Cụ Lương vẫn chưa thấy sót. Nên: “Cụ còn đề nghị Toà án giải quyết đúng pháp luật”

2. Giải quyết đúng pháp luật nghĩa là Cụ sẽ phải trả vợ chồng tôi 129 triệu đồng đã nhận và một khoản tương đương theo quy định tại khoản 2 điều 363 Bộ luật dân sự.

Với quan điểm - Vị thế của một nguyên đơn dân sự khởi kiện như cụ Lương quả là “Độc nhất vô nhị” xưa nay chưa từng có.(Thằng Bờm cũng phải tôn vinh Cụ lên làm sư phụ!)

- Hoàng Văn Giáp còn bịa ra chuyện Phạm Thị Ngân khai (trang 2 bản án) nhằm tung hoả mù – gây nhiễu cố tạo ra các chứng cứ hoang đường – lừa dối lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, các cơ quan hữu trách khi xem xét giải quyết đơn tố cáo của vợ chồng tôi.

Đặc biệt: Hoàng Văn Giáp - đưa quan điểm của đại diện viện kiểm sát đối với vụ kiện là: Y đã nhận thức được “Hậu hoạ” của hành vi vi phạm pháp luật của mình, (Yếu tố nhạy cảm) vì đã có cơ quan giữ quyền công tố và giám sát pháp Luật bảo hộ.

- Hắn (Giáp) xác định có Tuyên một bản án trái Luật cũng vì “Quyền và lợi ích thiết thân cho bố con “ông” Viện trưởng VKSND tỉnh thì ai còn dám truy tố hắn, xét xử hắn “! ?”.

Do có “Ô Dù” bảo hộ: Hoàng Văn Giáp và Vũ Thị Thanh Vân thả sức trổ hết tài năng giả mạo ra hàng loạt các chứng cứ không có thật để hợp pháp hoá bản án theo trình tự, quy định của Luật, không ai dám làm gì họ.

Nay tôi khẩn cầu kính mong được các Quý ông đứng đầu: Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ. Ông Chánh án TAND tối cao. Ông Viện trưởng VKSND tối cao thẩm tra, xác minh những chứng cứ “Giả mạo” được sử dụng trong các bản án tôi nêu trên có kết luận cụ thể.

- Tôi tố cáo sai, tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp Luật.

- Tôi tố cáo đúng, xin sớm được huỷ bỏ 02 bản án số 05/DS ngày 12/12/2003 của TA thị xã Phủ Lý và bản án số 08/PTDS của TAND tỉnh Hà Nam. Buộc mẹ con bà Phạm Thị Ngân + Đặng Công Tường trả lại toàn bộ diện tích đất họ đã cướp đoạt của vợ chồng tôi đã mua của cụ Bạch Đô Lương.

Phần II.

Quá trình giải quyêt đơn tố cáo của tôi

Do bị Toà sơ thẩm, phúc thẩm xử oan – xâm phạm đến các quyền và lợi ích (Tài sản) chính đáng của gia đình tôi. Tôi đã làm đơn – Tố cáo, kêu oan gửi lên ông Chánh án TAND tối cao, ông Viện trưởng VKSND tối cao mong được “Đèn Trời” anh minh soi xét. Kèm theo đơn có thêm tình tiết mới (chứng cứ mới) trong quá trình xét xử sơ thẩm, phúc thẩm chưa có để xem xét đó là:

- Giấy cam kết bút tích chữ ký của bà Phạm Thị Ngân, mẹ đẻ ra Đặng Công Tường đề ngày 25/6/2004 về việc: “Thoả thuận của 2 bên mua bán đất giữa gia đình cụ Lương, đổi lại tôi (Phạm Thị Ngân) phải thanh toán toàn bộ số tiền bản án phúc thẩm đã tuyên gồm: Tiền án phí và 54.566.700đồng (Tiền chênh lệch mua ban đầu của tôi – Quý) và tiền nộp thuế trước bạ.

- Giấy cam kết viết tay này mẹ con Thị Ngân đã không thực hiện. Cụ Bạch Đô Lương bị mẹ con Phạm Thị Ngân lừa quá căm phẫn…đã giao lại cho tôi (Xin gửi kèm đơn).

Tôi tin tưởng TAND tối cao, VKSND tối cao căn cứ vào “Giấy cam kết” này cùng với những chứng cứ xác định hành vi lạm quyền và giả mạo chứng cứ của người tiến hành tố tụng vụ án để có quyết định kháng nghị xét xử theo trình tự thủ tục Giám đốc Thẩm huỷ hai bản án trái Pháp luật nêu trên.

Nhưng tôi không ngờ: Lại nhận được công văn trả lời số3108/CN – DS ngày 30/7/2004 và số 1828 ngày 31/8/2005 của TAND tối cao do các ông Ngô Anh Dũng và Nguyễn Như Bích ký.

- Tôi cũng nhận được Công văn trả lời số 3356/VKSTC – V5 ngày 15/11/2005 của VKSND tối cao do ông Lê Ngọc Ngọ ký.

- Nội dung trả lời của các ông nêu trên đều khẳng định: Không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án Phúc Thẩm của TAND tỉnh Hà Nam, cách trả lời giống nhau như hai giọt nước – hầu như đơn khiếu nại – Tố cáo nào của dân oan cũng được nhận một câu theo mẫu in sẵn này.

Nay tôi tiếp tục kêu cứu gửi “lên ông Chánh án TAND tối cao, ông Viện trưởng VKSND tối cao soi xét lại vì:

Các ông: Dũng + Bích (TANDTC) và ông Ngọ (VKSND.TC) chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án - đó là những tài liệu, chứng cứ được “giả mạo” không có thật để trả lời. Nhưng các ông cũng không đưa ra được bất cứ chứng cứ nào chứng minh cho khẳng định của mình. Nếu chỉ căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án để trả lời thì ai cũng làm được. Cái mà tôi yêu cầu TAND tối cao, VKSND tối cao hãy về tận nơi xẩy ra vụ án để điều tra, xác minh sự thật một cách Minh Bạch – toàn bộ các tình tiết, chứng cứ tôi tố cáo. Sau đó hãy trả lời rõ ràng rằng: Chứng cứ nào tố cáo không đúng sự thật. Lý do không đúng sự thật phải có căn cứ để chứng minh. Còn nếu không có căn cứ để kháng nghị giám đốc Thẩm: có nghĩa là tôi đã vu khống “!?” Như vậy TA tối cao và VKS tối cao cũng phải chỉ ra một cách rõ ràng: Tôi đã tố cáo không đúng ở điểm nào – nội dung nào trong đơn. Nghĩa là không có hành vi lạm quyền trong khi thi hành công vụ. Không có dựng nguyên đơn giả, chứng cứ giả. Những điều Luật tôi viện dẫn là sai Luật. Là Nhà nước ta không ban hành các điều khoản trong bộ Luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật đất đai và Bộ luật hình sự tôi viện dẫn trong đơn. Và cũng không có chuyện ngược đời nguyên đơn (Cụ Lương) khởi kiện đòi Vô hiệu hợp đồng của tôi để được: Ra Toà mất không khoản tiền gần 2, triệu đồng án phí và 54.566.700, đồng bù chênh lệch về giá cho tôi – trong khi giá bán cho kẻ “cướp ngày” (Phạm Thị Ngân + Đặng Công Tường vẫn diện tích ấy và cũng cái giá 129, triệu đồng).

Vì các lẽ trên một lần nữa vợ chồng tôi khẩn cầu ông Chánh án TAND tối cao, ông Viện trưởng VKSND tối cao “Gia Ân” xem xét lại – sớm thu hồi các văn bản trả lời trên và có kháng nghị. Huỷ bỏ những bản án trái Luật ông Hoàng Văn Giáp và bà Lại Thị Hoa đã ký.

Phần III

Những kiến nghị kêu cứu khẩn cấp xin được giải quyết.

* Căn cứ các quy định của Pháp luật.

* Căn cứ vào tài liệu của vụ án (3 lần hoà giải thành ở cấp phường)

* Căn cứ vào văn bản ông Đỗ Văn Sáng chủ tịch UBND thị xã Phủ Lý ký đóng dấu đỏ xác định quyền sử dụng hợp pháp lô đất cụ Lương chuyển nhượng cho tôi để cấp sổ đỏ (Là cấp có thẩm quyền) có công chứng Nhà nước chứng thực.

*Căn cứ vào đạo đức, Lương tri của một con người.

* Căn cứ hành vi vi phạm Pháp luật của mẹ con bà, Phạm Thị Ngân + Đặng Công Tường (Qua cuốn băng ghi âm và giấy cam kết của Thị Ngân viết ngày 25/6/2004).

Tôi xin kiến nghị: Gửi lên các Quý ông: Đứng đầu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ. Ông Chánh án TAND tối cao. Ông Viện trưởng VKSND tối cao. Các cơ quan hữu trách quan tâm giải quyết đơn này của tôi.

1. Sớm thu hồi các văn bản trả lời của TAND tối cao, VKSND tối cao. Có kháng nghị xét xử theo trình tự thủ tục Giám đốc thẩm để huỷ bỏ hai bản án trái Pháp luật trong đơn tôi đã giải trình.

2. Có giải pháp mạnh: Buộc bà Phạm Thị Ngân + Đặng Công Tường phải dỡ bỏ vật kiến trúc trên lô đất thuộc quyền định đoạt của vợ chồng tôi – Trả lại tôi lô đất này và xử lý nghiêm minh đúng Pháp luật về hành vi phạm tội của họ. Vì Nhà nước ta:

- Không có Luật: người tố cáo đúng, người bị tố cáo cũng không sai “! ?”.

- Để chúng tôi tìm lại lòng tin đối với chủ chương đường lối chính sách của Đảng – Pháp luật của Nhà nước đã ban hành.

Chúng tôi tin rằng: Vẫn còn có sự công bằng trong xã hội này.

 

Nơi nhận:

 - Như kính gửi:

 - Ông Bí thư tỉnh Hà Nam

 - Ông Chủ tịch tỉnh Hà Nam

 - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam

 - Các cơ quan thông tấn, báo chí  TW

   để giúp đỡ kêu oan

Hà Nam, ngày 30 tháng 06 năm 2008

Người bị xâm phạm quyền lợi tố cáo

Bạch Thị Quý