Thưa Quí Vị ngày 7/1/2006 Mục sư Trần Long đã gởi “ Thông Điệp Phước Lành” dài 75 trang cho Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ Tịch Nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An, Bộ Trưởng Công an, Uỷ Ban Tôn Giáo Trung Ương, Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân.
Thông Điệp đã kêu gọi các cấp lãnh đạo ăn năn về những hành động trong quá khứ, về những chương trình trong hiện tại, về những quan điểm và cách đối xử phân biệt mà nhà Cầm Quyền đã cư xử với những Tín hữu Tin Lành tại Việt Nam. Thông Điệp đã biện minh cho niềm tin Cơ đốc, mà bấy lâu nay Đảng Cộng Sản và các cấp chính quyền Việt Nam đã bôi nhọ, đàn áp, xui giục nhân dân chống Cơ đốc Giáo và tín hữu Tin Lành.
Chúng tôi Văn Phòng Mục Sư Đoàn thuộc Liên Đoàn truyền Giáo phúc Âm Việt nam tại 28 Hồ Tùng Mậu - Phường Nguyễn Thái Bình - Quận 1 – sài Gòn trân trọng gởi đến Quí Vị nội dung mà Mục Sư Trần Long đã dành thì giờ nghiên cứu và bày tỏ nhận định của mình qua bài viết : “ Thông Điệp đến với Nhà Cầm Quyền Việt Nam”. Chúng tôi sẽ gởi đến từng phần, trước hêt gởi đến Quí Vị phần I dưới đây:
THÔNG ĐIỆP PHƯỚC LÀNH
KỲ MỘT
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐI NGƯỢC
TRUYỀN THỐNG VÀ VĂN HÓA CỦA NHÂN DÂN VIÊT NAM
Kính gởi:
- Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh.
- Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An.
- Chủ Tịch Nước Trần Đức Lương.
- Thủ tướng Phan Văn Khải.
- Bộ Trưởng Bộ Công An.
- Ủy Ban Tôn Giáo Trung Ương
- Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao.
- Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan.
- Ủy Ban Nhân Quyền Quốc tế.
- Uỷ Ban Tự Do Tôn Giáo Thế Giới
- Các Toà Đại Sứ Tại Việt Nam.
- Các Hệ Phái Tin Lành.
- Các Cộng Đồng Tôn Giáo Tại Việt Nam và Trên Thế Giới.
- Các Tín Hữu Tin Lành Trên Thế Giới.
Kính thưa quí cấp,
Với tư cách là người Việt Nam và là môn đồ của Chúa Jesus; với tư cách là người của Đức Chúa Trời trong đất nước được gọi là tự do tín ngưỡng, tôi có trách nhiệm trên đất nước mình đang ở, tôi phải tuân thủ luật pháp nhà nước mà Đức Chúa Trời đã bổ nhiệm nhà nước nầy cầm quyền, nhưng chúng tôi cũng có trách nhiệm tuân thủ luật pháp của Chúa Jesus – là lời Đức Chúa Trời. Tôi cũng có trách nhiệm đối với giáo dân và cũng có trách nhiệm đối với các hệ phái bạn. Dầu không cùng trong hệ phái nhưng hễ ai tin Chúa Jesus theo tiêu chuẩn Kinh Thánh thì trở nên công dân Thiên Quốc, trở nên con của Đức Chúa Trời. Tôi và các tín hữu Việt Nam có cùng đức tin, có cùng một Cha Thiên Thượng, có cùng Cứu Chúa Jesus và cùng một Đức Thánh Linh. Trải qua những tháng năm Việt Nam đối diện với những khó khăn và các tín hữu Tin Lành cũng như các giáo hệ khác cùng đồng cảnh ngộ như thế. Nhưng giữa sự khó khăn chung của nhân dân Việt Nam thì các tín hữu Tin Lành lại gặp càng muôn vàn khó khăn hơn thế nữa bởi vì niềm tin của mình. Sự khó khăn mà các tín hữu Tin Lành cũng như cộng đồng các tôn giáo gặp khó khăn, chẳng phải đến từ đế quốc bá quyền xâm lược, chẳng phải đến từ thể chế phong kiến bế quan toả cảng, nhưng lại đến từ ngay chính bậc cầm quyền của mình, được gọi là văn minh tiến bộ hơn bất kỳ thể chế nào khác trong lịch sử loài người. Tuy nhiên, những sự khó khăn đó có đáng để các tín hữu Tin Lành phải gánh chịu, tiếp tục bị đàn áp, và ức hiếp vì cớ niềm tin của mình hay không? Làm thể nào sự khó khăn nầy không còn xảy ra nữa trên đất nước hình chữ S đã được gọi là tự do, hạnh phúc? Làm thể nào có sự hài hòa giữa việc tuân thủ luật pháp nhà nước và vâng theo lời dạy Chúa Jesus ?
Tôi gởi đến quí cấp thông điệp nầy vừa nhắn nhủ Lời của Đức Chúa Trời dành cho quí cấp, để biết ý chỉ của Đấng Tối Cao là gì, hầu quí cấp “Thuận Thiên giã tồn.” Thứ hai, cũng để biện minh cho niềm tin của công dân Tin Lành và của các cộng đồng tôn giáo trên đất nước Việt Nam, hầu quí cấp phục vụ nhân dân Việt Nam thuận theo Ý Trời và hợp với lòng dân.
Đã quá lâu rồi, những đứa con của dân tộc vốn được thừa hưởng cơ nghiệp tự do, nhưng nay vẫn phải ngóng chờ kế thừa “sản nghiệp” tự do thiêng liêng. Tài sản vô giá của Chúa ban cho nhân dân Việt Nam vẫn còn bị chiếm đoạt, mà đảng cộng sản tìm mọi cách bảo vệ chìa khóa kho tàng đó, nhằm nhốt dân tộc Việt Nam trong vòng nô lệ đời đời. Nay đã đến lúc quí cấp nên trao chìa khóa “sản nghiệp” cho kẻ hưởng cơ nghiệp của Cha thiên thượng là nước Thiên Đàng vinh hiển thông qua Cứu Chúa Jesus. – Chúa là sản nghiệp của những kẻ tin nhận Ngài. Đã đến lúc quyền “tự do tôn giáo”, “tự do chọn lấy cho mình niềm tin chân chánh” phải được thực thi trọn vẹn.
Vì cớ Đức Chúa Trời là tình yêu và bản chất của Chúa không hề muốn huỷ diệt bất cứ ai. Đức Chúa Trời luôn luôn ban cho con người có những cơ hội khác nhau hầu người ta ăn năn, thay đổi, sám hối. Chúa không vui lòng về sự chết của bất cứ người nào khi người ấy chưa nhận ơn cứu rỗi. Tấm lòng của Cha thiên thượng dành cho con loài người rằng “Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi – Đảng Cộng sản khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết, hỡi các đảng viên không kính sợ Đức Chúa Trời ? (Ê-xê-chi-ên 33: 11) Kèn thổi trong thành, thì dân sự há chẳng sợ sao ? Sự tai vạ há có xảy ra cho một thành kia nếu mà Đức Giê-hô-va chẳng làm ? Cũng vậy, “Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri. (A-mốt 3:7). Sự công bình của người công bình sẽ không cứu được nó trong ngày nó phạm tội, và sự dữ của kẻ dữ sẽ không làm cho nó sa ngã nơi ngày nó đã xây bỏ sự dữ ấy, cũng như người công bình sẽ không nhờ sự công bình đã qua rồi mà sống được nơi ngày mình phạm tội. Dầu mà ta có nói với người công bình rằng nó chắc sẽ sống, nếu nó cậy sự công bình mình mà phạm tội, thì sẽ không nhớ đến một việc công bình nào của nó nữa; nhưng nó sẽ chết trong sự gian ác mình đã phạm. (Ê-xê-chi-ên 33:12-13)
Trước khi Đức Chúa Trời giáng tai vạ, Ngài lúc nào cũng báo trước cho con người để đánh thức tâm linh hầu họ ăn năn. Như lời hứa của Ngài đã vang vọng: “Trong lúc nào ta sẽ nói về một dân một nước kia đặng nhổ đi, hủy đi, diệt đi; nếu nước mà ta nói đó xây bỏ điều ác mình, thì ta sẽ đổi ý ta đã toan giáng tai họa cho nó. Cũng có lúc nào ta sẽ nói về một dân một nước kia đặng dựng nó, trồng nó; nếu nước ấy làm điều ác trước mắt ta và không nghe tiếng ta, thì ta sẽ đổi ý ta đã định xuống phước cho nó. (Giê-rê-mi 18:7-10) Nếu quí cấp xây bỏ điều ác, thì mọi tai vạ Đức Chúa Trời định giáng xuống quí cấp sẽ được thu hồi. Còn nếu quí cấp nghĩ rằng bởi sức mạnh của mình, bởi mưu kế của mình mà tiếp tục đi trong con đường tăm tối, gian ác, bất công, vi hiến thì Đức Chúa Trời sẽ đổi ý mà giáng họa cho chớ chẳng phải phước hạnh đâu.
Vì Chúa Là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhân tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời. Đức Chúa Trời kêu gọi ai nấy từ đường dữ việc xấu mình trở lại, bỏ con đường tà. Ai nấy sửa lại đường lối và việc làm của mình, thì trên trời Đức Chúa Trời đoái xem và tha thứ, ban ơn dồi dào.
Đây là cơ hội, đây là kỳ thuận tiện để quí cấp nhận được phước, vững bền, khôn ngoan, thông sáng, thánh khiết trong sự quản trị mà Đức Chúa Trời đã trao cho. Hãy tra xét đường lối mình mà trở lại cùng Chúa, quăng bỏ hình tượng và những ý tưởng hư không. Hãy học biết đâu là sự công bình thật, đâu là sự chánh trực trọn vẹn để đem lại ích lợi đời đời cho nhân dân Việt Nam.
Người mà Đức Chúa Trời cắt cử bổ nhiệm để quản trị, là người làm theo lòng và ý muốn của Ngài. Đây là người từ chủ trương, lời nói và hành động phù hợp với sự mong mỏi và niềm tin chung của nhân dân Việt Nam. Điều gì không phù hợp với ý Trời và lòng dân, điều gì ngược lại với niềm tin của cha ông ta, của các dân tộc trên đất nước Việt Nam thì bậc cầm quyền nên loại bỏ, sửa chữa. Nên mạnh dạn đổi mới, tiếp nhận chân lý; nên để cho nhân dân Việt Nam tự do tiếp xúc không giới hạn nếu điều nào đem lại ích lợi đời đời cho nhân dân và làm vui lòng Đấng Thiêng Liêng mà tổ tiên ta tôn kính.
NIỀM TIN CHUNG CỦA CÁC DÂN TỘC TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
- Dân tộc Việt Nam tin có Trời đất, thần thánh. Các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều tin vào một Đấng Thiêng Liêng nào đó - Đấng Tối Cao đã dựng nên muôn loài vạn vật. Tất cả đều tin rằng chính Đấng Tối Cao đó cầm giữ mạng sống của mỗi người trong tay Ngài.
- Dân tộc Việt Nam tôn thờ ông Trời và biết ơn ông Trời, biết ơn các thần thánh chứ không phải chỉ tổ tiên mà thôi.
- Dân tộc Việt Nam tin có linh hồn bất tử. Khi chết được gọi là qua đời. Có hai cõi vĩnh hằng mà kẻ chết phải đi đến đó là Thiên Đàng hoặc Địa Ngục.
- Dân tộc Việt Nam tin có sự phán xét đời đời, có sự báo ứng nhãn tiền. Tin vào việc Trời tru đất diệt. Tin vào việc ăn ở công bình sẽ được Trời thương xót và ăn ở gian ác sẽ bị diệt vong.
- Dân tộc Việt Nam tin rằng “mình” có nguồn gốc từ trên cao, từ Đấng linh thiêng chứ chẳng phải xuất hiện và tiến hóa từ cõi hư vô, từ ở dưới rất thấp, từ loài vật ăn lông ở lổ.
Niềm tin chung của nhân dân Việt Nam từ xưa cho đến nay là như thế.
KHÔNG THẤY MÀ TIN LÀ NIỀM TIN CHUNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ CỦA LOÀI NGƯỜI
Đã quá lỗi thời khi cho rằng không thấy tức là không có. Thuyết Tiến Hóa và Duy vật cố ý chối bỏ điều gì đó không có nghĩa là không có, không hiện hữu. Một nhà khoa học chân chính sẽ không bao giờ sử dụng cụm từ “không thấy tức là không có.” Nếu Đức Chúa Trời mà con người thấy được, thì Đấng mà loài người thấy được đó không phải là Đức Chúa Trời.
Colombus tin rằng có một vùng đất mới và ông đã tìm thấy, dầu trước đó ông không hề thấy. Những kẻ đồng thời với ông không tin đều họ không thấy, nhưng Colombus lại tin những điều ông không thấy. Người Cộng Sản không hề thấy Cộng Sản Chủ Nghĩa, chưa bao giờ rờ chạm được Xã Hội Chủ Nghĩa, nhưng tin cả hai thực hữu trong mơ tưởng. Bởi “Tin” có Xã Hội Chủ Nghĩa nên đã tiến hành cách mạng bạo lực để thực hiện điều mình tin là có, chứ không phải điều mình thấy. Người Cộng Sản tưởng tượng ra một thế giới đại đồng – ai cũng có thể làm điều nầy- sau đó, mày mò để tìm ra Xã Hội Chủ Nghĩa. Trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, phát họa nhiều mô hình Xã Hội Chủ Nghĩa (nhưng thực sự chỉ trên ý tưởng và giấy tờ), mãi đến giờ nầy cả nhân loại, kể cả nhân dân Việt Nam chưa thấy bóng dáng Xã Hội Chủ Nghĩa hiện ra. Trái lại, nhân dân các nước Xã Hội Chủ Nghĩa phải gánh lấy hậu quả hoang tưởng về Xã Hội Chủ Nghĩa của đảng cộng sản: “Tin những gì mình không thấy”. Rốt lại, cả dân tộc Việt Nam phải trở về điểm xuất phát với bản phát thảo Xã Hội Chủ Nghĩa nhàu nát, bên trong bản phát thảo vẫn còn nhiều điểm đang sửa chữa. Trong những giai đoạn mày mò, đảng Cộng sản đã làm cho dân nghèo, nước tụt hậu, thực hiện đấu tố, lên án, bỏ tù, phê phán, qui chụp. Cách đây hơn 20 năm Xã Hội Chủ Nghĩa là tem phiếu và bao cấp; nhà nước độc quyền nhiều lãnh vực nhưng nay đã sao y bản chánh tư bản chủ nghĩa. Thử hỏi trong tương lai Xã Hội Chủ Nghĩa là gì? Nói rằng: “Thấy mới tin”, thật ra tự mình lên án mình và tự mình mâu thuẫn với giả thuyết mình đưa ra.”
Cha ông ta chẳng hề thấy Lạc Long quân và Âu cơ. Các đời vua Hùng, thánh Gióng chưa hề có nhà lý luận triết học Đảng Viên Cộng Sản nào nhận diện nhưng Người Cộng Sản lại tin, viết sách ca tụng, tổ chức ngày văn hóa như là mình đã từng sống trong những ngày xa xưa. Người Cộng Sản đã không thấy nhưng lại tin.
Người Cộng Sản vốn không thấy nhưng lại tin, thì người Cộng Sản lấy tư cách gì mà dám phủ nhận niềm tin của Cơ đốc nhân, lên án Cơ đốc nhân rằng Đức Chúa Trời không thấy tại sao lại tin.
Các cán bộ, tiến sĩ, nhà văn, giáo sư triết học Mác-Lê chê bai, lên án người có niềm tin tôn giáo rằng “Đức Chúa Trời không thấy lại tin”, thật ra người Cộng Sản tự lên án chính mình và lên án tổ phụ mình. Vì người cộng sản vốn có rất nhiều điều không thấy mà đã tin. Lý luận để phủ nhận “Không thấy mà tin” đã trở nên lố bịch và nông cạn, trái với niềm tin chung của dân tộc Việt Nam cũng như thế giới
Tác giả John M. Maisel viết rằng: “Ngay cả khi một người nói không có Thượng Đế, người đó đã vi phạm một nguyên tắc triết học cơ bản. Người ấy là một con người với sự hiểu biết hữu hạn lại đưa ra một phát biểu tuyệt đối về bản chất của tính vô hạn.” Rồi Albert Einstein, người đoạt giải Nobel Vật Lý, đã nói nhân loại chỉ nắm được chưa đầy một phần trăm toàn bộ kiến thức. Nếu chúng ta chỉ có một phần trăm tổng tri thức, liệu không thể có khả năng Thượng đế thực hữu trong 99% kia chăng?” Một người với tâm trí hữu hạn không thể nào đưa ra một lời phát biểu tuyệt đối rằng không có Đức Chúa Trời, vì muốn tuyên bố như vậy cần phải có toàn bộ tri thức; vì vậy, rất khó cho người ta nghĩ Thượng Đế thực sự ra sao và khó mà tin quyết quan niệm của mình là đúng.
Bác Hồ tin có Đấng Tạo Hóa, Bác Hồ tin ý thức có trước và vật chất có sau. Bác Hồ với tư cách là người khai sanh nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, là người đem chủ nghĩa Mác-Lê vào Việt Nam đã đọc “Tuyên Ngôn độc lập” như sau: “ Hỡi đồng bào cả nước, Tất cả mọi người đều sanh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, có quyền tự do, và có quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ.” Bác đã thừa nhận có Đấng Tạo Hóa, có Đức Chúa Trời, nhưng tại sao các cấp chính quyền lại dạy trong trường, viết các sách phủ nhận Thượng Đế mà Bác tin tưởng. Người Tin Lành làm và dạy đúng theo lời Bác, còn đảng cộng sản và chính phủ Việt Nam đã làm sai lời Bác dạy, đã chủ trương ngược lại với niềm tin của Bác. Người phải bị đem ra phê bình kiểm điểm là đảng cộng sản, là đảng viên, là các cấp chính quyền đã chủ trương dạy chủ nghĩa vô thần ngược với điều Bác dạy. Cớ sao tín hữu Tin Lành bị áp chế, tấn công khi có cùng niềm tin về Đấng Tạo Hoá như những gì Bác tuyên bố ở trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ?
DÂN TỘC VIỆT NAM TIN LINH HỒN BẤT TỬ VÀ ĐỜI SAU.
Nhân dân Việt Nam ta tin có linh hồn, có đời sau, và có sự phán xét đời đời - thưởng cho kẻ thiện, trừng phạt kẻ làm ác. Các dân tộc trên đất nước Việt Nam tin rằng chết không phải là kết thúc, nhưng là chầu Trời - đối diện với sự phán xét đời đời. Vì vậy, nhân dân Việt Nam thuộc câu “Trời kêu ai nấy dạ.” Dân tộc Việt Nam tin rằng chết là qua đời, là “qui tiên”, là lá rụng về cội. Chết là bước qua một thế giới khác, nhập hộ khẩu vào một thế giới mới. Người Việt Nam tin rằng chết là hồn lìa khỏi xác để hồn đi vào cõi vĩnh hằng. Do đó, mới có việc cúng bái, mời gọi linh hồn người chết trở về, có việc đốt vàng mã để gởi cho người chết ở bên kia thế giới. Thế giới nào thì còn phải xét lại cách ăn ở của người đó lúc còn đang sống. Nhưng chắc chắn có hai thế giới: một là thiên đàng, hai là âm phủ đời đời.
Nói về linh hồn bất tử và đời sau, Bác đã nói như thế nầy trong di chúc của mình: “Phòng khi tôi đi gặp Cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác.” Bác còn viết: “Khi tôi qua đời.” Chính Bác Hồ thừa nhận có đời sau, có linh hồn, có cõi vĩnh hằng. Còn các vị trên kia ở cõi vĩnh hằng nào thì ta sẽ bàn vào chương sau. Năm 2004 Báo chí viết tường thuật Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh viếng Bác Hồ như sau: “Đứng trước vong linh Người.” Vào tháng 7 năm 2005 Nhà nước cho phép Giáo Hội Phật Giáo cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống tại chiến trường Trường sơn. Nếu Bác và quí cấp thừa nhận có linh hồn, có đời sau thì làm thể nào phủ nhận đời sau và tuyên bố chết là hết trong các chương trình giáo dục, tiếp tục tuyên truyền chủ nghĩa vô thần ?
Cầu siêu là gì ? Ấy là cầu cho các linh hồn được siêu thoát. Nhưng làm sao linh hồn họ được siêu thoát nếu như không có linh hồn! Tổ chức để cho các vị Tăng Lữ và tín hữu Phật Giáo cùng các thân nhân của các anh hùng liệt sĩ cầu siêu thì gián tiếp các cấp thừa nhận các anh hùng liệt sĩ có linh hồn, và thừa nhận rằng chết không phải là hết. Vậy, Người Cộng Sản tự đặt mình chổ nguy hiểm và tự mâu thuẫn với chính mình, với những gì mình dạy trong các trường, trong các cơ quan, trong quân đội.
Trước đây cũng như bây giờ, các Đảng Cộng Sản phủ nhận linh hồn, phủ nhận có đời sau, phủ nhận Thượng Đế, phủ nhận thần thánh, phủ nhận lãnh vực siêu hình. Nhưng trên thực tế tổ chức cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ. Vậy, đây là niềm tin gì? Đảng cộng sản không còn đi con đường chủ nghĩa Mác-Lê vô thần nữa hay sao? Nếu có linh hồn thì các linh hồn của các anh hùng liệt sĩ đi đâu? Ai sẽ giúp cho các linh hồn nầy siêu thoát? Nếu các anh hùng nầy có linh hồn thì ai là người lừa dối họ trước đây? Đảng đã dạy họ phủ nhận linh hồn mình để rồi linh hồn họ phải bị đoạ đày trong âm phủ và hồ lửa đời đời. Nếu có linh hồn thì ai đã xui giục và dạy các chiến sĩ lúc sanh thành chống Trời, đi ngược lại với niềm tin của ông bà tổ tiên họ. Khi các oan hồn nầy đối diện với cơn thạnh nộ và án phạt đời đời của Thiên Chúa thì ai chịu trách nhiệm về sự hư vong của họ. Ai đã đẩy hồn linh các anh hùng liệt sĩ xuống âm phủ đời đời? Ôi! Biết bao sinh linh phải bị quăng vào hồ lửa vì từ chối sự tha thứ của Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus bởi Đảng Cộng Sản đã lừa dối họ. Trên trần gian họ đã chịu nhiều khốn khổ, nay họ tiếp tục đau đớn không nguôi trong địa ngục, và cuối cùng số phận họ trong hồ lửa diêm cháy bừng bừng đời đời. Ấy là lỗi tại ai ?
Nếu chết là hết, thì tổ chức cầu siêu tại Trường Sơn nhằm mục đích gì? Thật phí công, phí của, phí thì giờ của nhân dân. Phải chăng đó là trò chính trị, đánh lừa người dân? Nếu chủ trương chết là hết thì lời tuyên bố của Bác hoàn toàn sai. Trái lại, nếu Bác đúng thì những ai chủ trương chết là hết là làm sai ý Bác và dám kết án rằng Bác đã sai.
Niềm tin của người theo Chúa không hề làm sai và tuyên bố sai với niềm tin của Bác. Người Tin Lành có cùng niềm tin với Bác là có đời sau, có linh hồn và hồn linh bất diệt. Quí cấp không biết cụ Mác, cụ Lê và Bác Hồ, ông Darwin ở đâu nhưng chúng tôi là người có Chúa Jesus biết rất rõ hiện giờ quí cụ ấy đang ở chổ mình phải ở. Những vị ấy đang than khóc và hối tiếc ở trong âm phủ giữa diêm cháy cháy bừng bừng, linh hồn họ chờ ngày phán xét của Chúa Jesus để rồi cuối cùng bị quăng vào hồ lửa đời đời, sống chung với ma quỉ trong sự đau đớn.
PHI LÝ CỦA NIỀM TIN CHO RẰNG CHẾT LÀ HẾT.
Người Mác-xít chủ trương chết là hết, không có thần thánh chi cả, thế giới hay vũ trụ, muôn loài vạn vật nầy tự nhiên mà có. Cho rằng tôn giáo là do con người sợ hãi lực lượng thiên nhiên và không giải thích được các hiện tượng nên đã dựng nên tôn giáo. Chứng minh thư của các đảng viên đều ghi rằng “ không tôn giáo”. Với loại chủ trương trên của Mác và Lê-nin là loại văn hóa rất xa lạ với văn hóa Việt Nam. Nếu con người chết là hết thì điều mà chúng tôi hỏi quí cấp, các nhà tư tưởng và lý luận của bộ chính trị rằng công bình nằm ở chỗ nào ?” Những bó hương dâng cho người chết có ý nghĩa gì ? Người ta công bình để làm, sống lương thiện để làm gì ? Chẳng có ý nghĩa gì cả. Vì chết là hết, cát bụi trở về với cát bụi.
Nếu chết là hết thì cuộc sống, gia đình chẳng có gì thiêng liêng; hôn nhân chẳng có ý nghĩa cao đẹp chi cả. Với quan điểm chết là hết khiến cho các nữ sinh sẵn sàng từ bỏ trinh tiết của mình, vì xem nó chẳng có gì thiêng liêng bởi chết là hết. Không thể trách cứ các bạn trẻ hay những ai lao vào cuộc chơi trụy lạc, mại dâm, thuốc lắc, vì chết là hết. Kẻ có tiền cứ vung tiền qua cửa sổ, chạy đến những nơi ăn chơi thâu đêm vì cuộc sống không có gì thiêng liêng, bởi chết là hết. Chết là hết, thì cúng bái chẳng có gì là thiêng liêng. Nếu chết là hết, thì người ta truy điệu là trò lố bịch. Nếu kẻ công bình và người gian ác chết là hết, thì thật là bất công và quá bất công. Các chiến sĩ đã hy sinh tại Trường Sơn và các chiến sĩ còn sống ai được lợi hơn ? Những người còn sống và sau nầy thăng tiến trên đường công danh để rồi vợ con của họ vui hưởng thành quả của những kẻ đã vì đất nước hy sinh. Còn kẻ chết cho chính nghĩa hay cho đồng đội cuối cùng chẳng có gì cả. Nếu chết là hết, thì hi sinh để làm gì ?
Có biết bao người làm gian ác mà vẫn sung sướng, còn vô số người phải chịu đựng đầy dẫy những bất công trong cuộc sống mà vẫn khốn khổ, rồi cuối cùng hai hạng người trên đều chết. Vậy, sự công bình ở đâu nếu chủ trương chết là hết. Nếu chết là hết, thì sống đạo đức để làm gì? Bởi chủ trương chết là hết nên con người dễ dàng sống chạy theo vật chất, sống tìm cách tham nhũng và hối lộ, sống cho qua ngày đoạn tháng bằng những cuộc vui chơi để thoả mãn dục vọng là chuyện bình thường. Sẽ là sai lầm rất lớn khi ta lên án những người sống sa đọa một khi ta chủ trương rằng chết là hết. Giả như có một đứa bé nầy sanh ra trong gia đình của cán bộ, được hưởng mọi đặc quyền đặc lợi của con một cán bộ; được xe đưa xe đón, ăn được những của ngon vật lạ, học hành đến nơi đến chốn. Còn đứa trẻ khác lại sanh ra trong một gia đình nghèo khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thiếu thốn mọi điều rồi cả hai chết, vào cõi hư vô. Quá bất công khi chủ nghĩa Mác-Lê và Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương chết là hết. Từ trong bản chất của chủ nghĩa Mác-Lê vốn bất công thì kẻ áp dụng chủ nghĩa nầy không thể đem lại công bằng cho nhân dân Việt Nam.
Hitler giết hàng triệu người và sau đó ông chết là hết thì quá bất công. Nhiều cán bộ tham nhũng, làm nhiều điều ác, ném đá giấu tay - như Stalin đã giết các đồng chí mình, có những cán bộ hãm hại người vô tội chưa bị phát hiện và họ chết đi có thể được ca tụng, con cháu họ hưởng những đặc quyền đặc lợi và thừa kế tài sản họ để lại. Trong khi ấy những kẻ bị ức hiếp, tiếp tục bị khốn khổ bởi hậu quả của nó. Sau đó cả hai cùng chết, và hết thì quá bất công, vô cùng bất công.
Chủ trương chết là hết là một loại chủ trương bất công, đẩy con người sẵn sàng làm bất cứ điều ác nào. Chủ trương chết là hết là loại chủ trương khiến người ta càng phạm tội thêm, tự lừa dối mình và lừa dối kẻ khác. Chủ trương chết là hết làm băng hoại xã hội, gia đình và đời sống đạo đức cá nhân.
Chủ trương chết là hết thật không ổn và đi ngược lại với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt nam -Chống nhân dân Việt Nam: Chống tín hữu Công giáo và Tin lành, chống tín hữu Hồi giáo và Phật giáo, chống người theo đạo thờ cúng ông bà tổ tiên và chống các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Đảng Cộng Sản Việt Nam, các trường chính trị đang chống lại nhân dân Việt Nam.
Chủ trương chết là hết, không có đời sau chính là đánh đồng người công bình với kẻ gian ác, đánh đồng người hi sinh và kẻ lợi dụng, đánh đồng kẻ dối trá với người bước đi trong lẽ thật. Đánh đồng kẻ áp bức và kẻ bị áp bức. Đó là sự bất công trong bản chất Xã Hội Chủ Nghĩa.
Chính vì sẽ đối diện với sự phán xét đời đời, chính vì tin rằng có linh hồn bất diệt và chịu án phạt với những gì khi còn sống trên trần gian thì con người mới cẩn thận và lánh xa sự gian ác. Có sự phán xét thì ăn ở công bình và thánh khiết mới có ý nghĩa. Có linh hồn bất diệt, có đời sau thì việc làm lành lánh dữ mới có giá trị. Chủ trương ngược lại và kêu gọi người ta ăn ở đạo đức, quả là buồn cười và trẻ con. Sự phán xét không phải đùng dể hù doạ như những nhà tư tưởng vô thần chủ trương. Sự Phán xét chính là lời cảnh báo và cho con người thấy rõ hậu quả nếp sống vô luân, chống trời, chống nhân loại, nếp sống gian ác và gian dối. Sự phán xét giúp thức tỉnh người ta lánh xa điều ác, cẩn thận trước khi quyết định hành động một việc gì. Chủ trương chết là hết khiến người ta bất chấp mọi thủ đoạn miễn là đạt được mục tiêu, làm cho những kẻ ấy xảo quyệt, gian ngoa hơn - Lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện.
Cơ đốc giáo tin rằng chết không hề hết, tin rằng có sự phán xét đời đời. Niềm tin Cơ đốc phù hợp với niềm tin chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam. Cơ đốc nhân làm ích lợi cho nhân dân Việt Nam. Đảng Cộng sản đã bắt bớ tín hữu Tin Lành, ngăn trở rao giảng Phúc Âm cách tự do chính là làm tội chồng trên tội.
Tin Lành Chúa Jesus thỏa mãn được niềm tin về Đấng Tạo Hoá, về linh hồn bất diệt, về sự phán xét, về cõi đời sau, về lương tâm, về đạo đức, về nguồn gốc siêu nhiên của con người nói chung và của nhân dân Việt Nam nói riêng.
Quí cấp có linh hồn, có tâm linh. Linh hồn hay tâm linh quí cấp phải được đáp ứng. Điều quan trọng là lấy gì đáp ứng ? Tâm linh hay linh hồn phải được đáp ứng bằng niềm tin tôn giáo không thể bằng Chủ Nghĩa Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa- Chỉ duy nhất Chúa Jesus là Đấng đáp ứng khoảng trống trong tâm hồn các cấp. Chủ Nghĩa Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa không thể nào đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người. Sai lầm rất lớn hiện nay của Đảng Cộng Sản là sử dụng chủ nghĩa Mác-Lê như là thức ăn cho linh hồn các em học sinh trong trường, các cơ quan, Quốc Hội, nhưng thực chất nó là thuốc độc đối với tâm linh của loài người. Từ chối niềm tin tôn giáo, dạy con người phủ nhận Trời; dùng Chủ Nghĩa Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa làm thực phẩm cho linh hồn khiến cho con người bị tha hóa là đi ngược lại với truyền thống cha ông ta, đi ngược lại với niềm tin chung của các dân tộc Việt Nam và trên toàn thế giới.
TIẾP NHẬN CHÚA JESUS LÀ PHÙ HỢP VỚI Ý MUỐN CỦA TỔ TIÊN.
Tổ tiên Việt Nam đã qua đời và họ đã được đưa vào hai nơi hoặc Thiên Đàng hay Âm phủ. Tổ tiên ta còn sống luôn luôn tin có hai nơi mà loài người phải đi đến. Tổ tiên ta đã làm hết sức và mọi cách theo mình nghĩ là đúng để không rơi vào cảnh đau khổ đời đời. Nay tất cả tổ tiên ta đã vào chỗ của mình, và những người ấy đã biết được bí mật siêu nhiên và phương cách nào vào sự vinh hiển đời đời. Chưa hề có ai lên trời, trừ ra Đấng từ trời xuống, ấy là Chúa Jesus vốn ở trên trời. Chúa Jesus từ trời đến và chính Ngài biết đường đi về trời và biết cách đi con đường đó. Tổ tiên chúng ta bây giờ đang khao khát dân tộc Việt Nam đi con đường đúng đắn để bước vào thiên đàng vinh hiển. Con đường đó là Chúa Jesus. Tổ tiên chúng ta khao khát dân tộc Việt Nam tin nhận Chúa Jesus để được cứu rỗi. Vì vậy, niềm tin vào Chúa Jesus phù hợp với tổ tiên của dân tộc Việt Nam.
Tưởng nhớ tổ tiên hay ghi ơn tổ tiên chỉ có ý nghĩa là làm cho kẻ ở bên kia thế giới vui lòng, khi kẻ ghi nhớ tin có linh hồn, thờ phượng Đức Chúa Trời. Tưởng nhớ tổ tiên chỉ có giá trị cho những người hữu thần. Một người vô thần tưởng nhớ tổ tiên là trò lố bịch, mỵ dân, mâu thuẫn, giả hình, lừa dối tổ tiên và dân tộc. Vì sao ? Vì nếu chết là hết, thì những kẻ chết làm thể nào nhận được sự thành kính của chúng ta, làm thể nào hưởng những mùi hương của ta dâng lên. Dâng hương chỉ xuất hiện khi thừa nhận có linh hồn, có đời sau. Thật phi lý và mâu thuẫn khi ta chủ trương chết là hết, không có đời sau, không có sự phán xét rồi ta lại dâng hương cho kẻ chết. Khi người theo Chủ Nghĩa Mác-Lê dâng hương cho tổ tiên mình, thì cũng là lúc chính mình lên án tổ tiên mình rằng: Lúc tổ tiên ta đương sống họ quá ngu muội tin vào trời đất, thần thánh, linh hồn bất diệt, tin có đời sau, có âm phủ và thiên đàng, có sự phát xét dành cho kẻ ác và ban thưởng cho kẻ công bình. Tổ tiên ta bên kia thế giới đang đau đớn cũng phải phì cười vì trò lừa lọc ngớ ngẩn của người theo chủ nghĩa Mác-Lê. Thật quá phi lý khi người Cộng sản cho rằng chết là hết - tức là đã đi ngược lại truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam thì không lên án, trái lại lên án Tin Lành là một phần trong văn hóa của dân tộc Việt nam, phù hợp với niềm tin chung của dân tộc, ông bà tổ tiên người Việt Nam cũng như toàn thế giới
Người theo chủ nghĩa Mác-Lê chủ trương nguồn gốc tổ tiên mình là ai ? Lạc Long Quân và Âu-cơ. Tổ tiên Lạc Long Quân và Âu-cơ là ai? Là loài vượn người. Tổ tiên loài vượn người là ai? Câu trả lời là loài vật cấp thấp. Tổ tiên loài vật cấp thấp là ai ? Chính là từ những tế bào sơ khai, nguyên thủy. Hỏi thêm nữa, tổ tiên của tế bào nguyên thủy là ai ? Là vật chất hữu cơ và vô cơ. Câu hỏi tận cùng tổ tiên vật chất hữu cơ và vô cơ là ai? Câu trả lời tận cùng là “TỰ NHIÊN MÀ CÓ”. Như vậy tổ tiên của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng theo quan điểm của Mác-Lê là “TỰ NHIÊN MÀ CÓ.” Nếu loài người vốn tự nhiên mà có thì ta thờ ai? Gốc tích của dân Việt Nam là “TỰ NHIÊN MÀ CÓ.” Vì vậy, cũng phải lập bàn thờ “TỰ NHIÊN MÀ CÓ.” Người dân Việt Nam từ xưa đến nay làm gì có bàn thờ “TỰ NHIÊN MÀ CÓ.” Nếu lập bàn thờ như thế thì nhân dân Việt Nam chẳng ai chấp nhận. Sau bàn thờ “tự nhiên mà có”, ta vẽ tưởng tượng hình một tế bào nào đó, hình con khỉ, kế đến hình vượn người và cuối cùng hình ông cha ta. Như vậy mới gọi là thờ tổ tiên, ông bà theo quan điểm Mác-Lê về nguồn gốc muôn loài.
Cha Ông ta chưa hề có ác tưởng rằng mình từ con khỉ hay con vật mà ra, cũng chưa hề nghĩ mình tự nhiên mà có. Ác tưởng nầy từ Mác-Lê. Hãy loại ra khỏi dân tộc Việt Nam ác tưởng chủ nghĩa Mác-Lê, vì đi ngược lại truyền thống và văn hóa của dân tộc Việt Nam, đi ngược lại niềm tin chung của dân tộc Việt Nam, nó đã và sẽ giết chết vô số sinh linh trong hồ lửa đời đời.
Ta phải ca ngợi tổ tiên ta trong quá trình đấu tranh khắc nghiệt, vượt qua gian khó từ loài cấp thấp đến loài khỉ, và từ loài khỉ đến loài vượn thì mới phải lẽ. Đằng nầy, chỉ ca ngợi cuộc giữ nước của đảng cộng sản mà thôi. Việc làm như thế có lỗi rất lớn đối với tổ tiên Việt Nam. Ông bà tổ tiên ta rất đau đớn khi biết kẻ đứng trước bàn thờ tổ tiên lại phủ nhận những gì ông bà ta tin. Nếu ông bà của những người nầy sống lại, thì chắc phải kêu gọi những đứa con cháu ngỗ nghịch nầy để quở trách chúng cách nặng nề, bởi chúng dám đem Thuyết Tiến hóa, Chủ Nghĩa Duy Vật làm cho Đức Chúa Trời của họ phải nổi giận với dân tộc Việt Nam.
Nên loại bỏ Chủ Nghĩa Duy Vật và Thuyết Tiến Hóa ra khỏi chương trình chính quy; tư tưởng nầy không thể là tư tưởng chủ đạo, vì nó dẫn con người đến chổ hư mất linh hồn đời đời. Hai tư tưởng trên chống trời, chống truyền thống văn hóa dân tộc và chống chính linh hồn của quí cấp. Nó chỉ là một trong những tư tưởng từ địa ngục, từ ma quỉ, đem lại hủy diệt các sinh linh trong hồ lửa đời đời. Không thể là kim chỉ nam cho linh hồn của loài người, của qúi cấp. Qúi cấp, hay đảng viên cộng sản có quyền tin hay không tin tôn giáo, đó là quyền mà mọi người trên trần gian đều lựa chọn. Nhưng quí cấp cần phải nhớ rằng mỗi người đều phải gánh chịu hậu quả do chính mình lựa chọn. Và Cũng đừng lôi kéo, áp đặt người khác cùng chung số phận khổ đau đời đời trong sự thạnh nộ và hồ lửa đời đời với mình. Ngày nay, quí cấp thấy rõ hậu quả đó nhưng lại cứ bịt tai, nhắm mắt làm ngơ để rồi cuối cùng đến phiên quí cấp bị diệt vọng.
Jesus là nhân vật lịch sử, nhân vật có thật, một nhân vật đầy quyền năng được kiểm chứng bằng cả thực nghiệm của hàng triệu con người mà quí cấp lại không tin. Trong khi Jesus nhơn từ, yêu thương, quyền phép bị quý cấp từ chối, nhưng tin vào những con người mà chủ trương của những người ấy là thúc đẩy người ta chém giết lẫn nhau. Người lãnh đạo tôn sùng và chạy theo quan điểm của kẻ chủ trương bạo lực, thì người lãnh đạo đó cũng hành xử bạo lực và tàn ác. Sẽ là tự lừa dối mình và lừa dối những mái đầu xanh khi ta lại tin vào thần thoại con rồng cháu tiên trong khi đó ta phủ nhận phép lạ siêu nhiên, công việc siêu nhiên của Đức Chúa Trời được thực chứng trên khắp thế giới. Người theo Chủ Nghĩa Duy Vật ca tụng khoa học và tự xưng mình có trình độ khoa học, nhưng khi đứng trước hai sự kiện đều mang tính siêu nhiên lại tin vào loại siêu nhiên thiếu bằng chứng thuyết phục; trong khi loại siêu nhiên đầy dẫy những bằng chứng mang tính siêu nhiên có thật thì loại bỏ và báng bổ.
PHỦ NHẬN CHÚA JESUS CHÍNH LÀ PHỦ NHẬN LỊCH SỬ CỦA NHÂN LOẠI và CỦA CÁ NHÂN KẺ PHỦ NHẬN.
Chúa Jesus giáng thế và chia đôi dòng lịch sử nhân loại. Kể từ ấy, mọi sự kiện lịch sử loài người xoay chung quanh nhân vật lạ lùng nầy. Tất cả văn kiện lịch sử của loài người, trong các chính thể, các quốc gia và từng cá nhân đểu phải dựa vào mốc lịch sử Chúa Jesus ra đời để định ngày tháng. Dầu muốn hay không, thù địch hay yêu thương thì mọi người khi sanh ra trên thế giới phải có ngày tháng năm sanh cho chính mình. Ngày tháng năm sanh của các cán bộ vô thần đang đặt trên mốc lịch sử của Chúa Jesus. Các văn kiện của chính phủ Liên-xô, Đông âu, Trung quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên đều phải ghi ngày tháng dựa vào mốc Lịch sử của Chúa Jesus. Nếu không thích thì quí cấp cứ sử dụng ngày tháng âm lịch như tổ tiên ta đã làm – đó là văn hóa truyền thống của dân tộc”. Còn nếu sử dụng ngày tháng năm trong thẻ đảng, thẻ chứng minh nhân dân, hộ khẩu và trong các văn kiện chính phủ thì đừng bao giờ phủ nhận Chúa Jesus. Đừng bao giờ lên án tôn giáo, Tin Lành cách tùy tiện, lố bịch, bội ơn, bôi nhọ, và vu khống. Một người sử dụng thành quả của kẻ khác sau đó lên án, bôi nhọ và phủ nhận và tìm cách ngăn chận triệt tiêu dòng dõi của họ, bôi nhọ họ, lên án họ trước mặt con cháu họ thì ta thử nghĩ người nầy thuộc topten nào? Một mặt phủ nhận Chúa Jesus, chống Chúa Jesus và một mặt sử dụng ngày tháng năm của Chúa Jesus thì quả dân tộc Việt Nam đã bị rủa sả khi có các bậc lãnh đạo Việt Nam là những con người như thế.
KẺ ĂN CHÁO ĐÁ BÁT, VONG ÂN BỘI NGHĨA, UỐNG NƯỚC KHÔNG NHỚ NGUỒN LÀ KẺ PHỦ NHẬN SỰ THỰC HỮU CỦA CHÚA JESUS. TRUYỀN THỐNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÔNG HỀ NHƯ THẾ. Nhân dân Việt Nam không thể nào hãnh diện lớp người lãnh đạo uống nước mà không biết nhớ nguồn.
TIN LÀNH PHÙ HỢP VỚI CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
Theo như Nghị định hay pháp lệnh đã ghi: “Tưởng niệm những vị anh hùng có công với nước, với cộng đồng.” Có một vị anh hùng có công với đất nước và đứng đằng sau bức màn chính trị là Đức Chúa Trời đã vùa giúp tổ tiên chúng ta dựng nước và giữ nước (đây là niềm tin truyền thống của cha ông ta). Chính Đức Chúa Trời đã dựng nên các từng trời và đất đã phân chia đất cho các dân trên thế giới, định giới hạn cho muôn dân. Ngài là anh hùng đáng phải khiếp sợ. Chính Đức Chúa Trời có công với dân tộc Việt Nam. Người Tin Lành đã thờ Trời, thờ Chúa Jesus, đã cảm ơn Trời. Trước khi quí cấp vào miền Nam thì người Tin Lành đã làm điều nầy, không cần phải đợi khi quí cấp đưa pháp lệnh về tôn giáo cho phép mới làm. Trong khi quí cấp là người lãnh đạo không biết ơn Trời, không tưởng nhớ đến vị anh hùng Thiêng Liêng thì người Tin Lành đã thay mặt Đảng và Nhà Nước, thay mặt nhân dân Việt Nam làm điều nầy. Quí cấp bội ơn Trời, người đáng bị quở trách là Đảng Cộng Sản Việt Nam, là bộ chính trị trung ương, là ban bí thư. Nay quí cấp lại đàn áp hà khắc người biết ơn Trời. Thật là bất công, bất nhẫn, tán tận lương tâm khi kẻ bội ơn Trời đất ức hiếp người biết ơn Trời. Kẻ phỉ báng Trời và thánh thần lại chống đối người thờ phượng Trời. Kẻ đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam lại bách hại và lên án người đi đúng với truyền thông dân tộc mình. Kẻ đi ngược lại truyền thống văn hóa Việt Nam lại nói với nhân dân rằng mình thực hiện “đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.”
ĐỘC QUYỀN TRUYỀN BÁ TƯ TƯỞNG VÔ THẦN ĐI NGƯỢC LẠI ÍCH LỢI CỦA NHÂN DÂN
Không thấy mà tin là niềm tin chung của mọi người. Đã là niềm tin chung của kẻ vô thần cũng như người hữu thần thì người vô thần, đảng cộng sản không có tư cách gì đã kích, phỉ báng niềm tin của người hữu thần trong giáo dục một chiều tại nhà trường, trong các cơ quan, xí nghiệp qua hệ thống truyền thông một chiều. Thật bất công, phi đạo đức khi nhà nước thực hiện độc quyền giáo dục nên chỉ đưa ra sách lược tuyên truyền tư tưởng vô thần một chiều, đả kích tôn giáo qua thuyết duy vật và tiến hóa, nhằm thủ tiêu tôn giáo, làm lung lay niềm tin của tín hữu và nhân dân đang thờ Trời. Đảng đang làm một việc gây đau thương cho các học sinh sinh viên là những người trong đời thường chúng tin vào thần thánh, các em đi nhà thờ, đi chùa; thờ phượng Chúa Jesus, tôn thờ Phật thích ca. Các em ngồi ghế nhà trường bị các giáo sư vô thần đả kích niềm tin của cha mẹ chúng và của chính chúng. Nhà trường là nơi chúng được trau dồi kiến thức toàn diện, được học tập và được lý luận, được nhận xét. Nhà trường không phải nơi để nhà nước tự do tấn công vào niềm tin tôn giáo vi phạm quyền tự do tôn giáo. Nếu người tín hữu truyền bá niềm tin của mình cho người khác nơi công cộng bị nhà cầm quyền lên án và phán xét rằng “truyền đạo trái phép”, thì việc truyền bá tư tưởng vô thần nơi công cộng cũng vi phạm pháp luật thể ấy- “truyền đạo vô thần trái phép.”
Nếu như toán học hai cộng hai là bốn thì dầu muốn hay không bắt buộc học sinh phải chấp nhận. Riêng lãnh vực tôn giáo hoặc triết học không giống như toán học bắt buộc phải chấp nhận. Lãnh vực triết học hay thần học thuộc lãnh vực tư tưởng; lãnh vực của niềm tin. Vì vậy, học sinh hay sinh viên cần được dạy dỗ để chúng thấy nhiều quan điểm khác nhau, chúng được dạy để suy luận, để phản biện và để chọn lựa. Đó là giáo dục đúng nghĩa, là văn minh tiến bộ. Lối giáo dục mà để nhà trường chỉ dạy độc nhất tư tưởng vô thần và thuyết tiến hóa một chiều mà thôi, và bắt chúng phải chấp nhận ngược với niềm tin thiêng liêng của chúng là lối giáo dục ngu dân. Nếu các nhà giáo dục vô thần tuyên bố rằng phải giáo dục cho học sinh biết thì giáo dục phải dạy song song hai quan điểm hữu thần và vô thần; sau đó để cho học sinh, sinh viên tranh luận và phản biện, tự do chọn lựa. Nếu chỉ dạy chủ nghĩa Mác-Lê không thôi mà không có tranh luận, không có phản biện thì đó là nhồi sọ. Đất nước mà nền giáo dục vẫn còn nhồi sọ thì nền giáo dục đó còn sơ khai, thuộc thời kỳ đồ đá. Nhà trường là nơi chúng được học tập, tìm hiểu và khám phá chứ không phải nơi mà niềm tin chúng bị nhà nước tấn công, nơi mà chúng bị nhồi sọ, nơi mà tấm lòng của các em bị tổn thương, nơi mà tâm trí các em bị dằn vặt, tranh đấu giữa niềm tin của các em với thuyết tiến hóa mà lại không được thắc mắc hay tranh luận. Như thế được gọi là nhà trường có nền giáo dục văn minh tiến bộ hay sao ?
Các em học sinh thấy rõ nhà nước và đảng cộng sản đã và đang tấn công vào niềm tin của cha mẹ chúng; đang chà đạp và hủy diệt niềm tin của chúng và của ông bà tổ tiên, của nhân dân Việt Nam khi quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lê được dạy cách độc quyền, và đi ngược lại những gì cha mẹ, ông bà, và chính chúng đang tin theo. Chúng tôi là những bậc cha mẹ không đồng ý quí cấp mắng chửi chúng tôi khi tuyên truyền trong trường lớp về tư tưởng vô thần, phỉ báng tôn giáo và thánh thần, phỉ báng về niềm tin vào tôn giáo và vào thánh thần. Chúng tôi không đồng ý bộ giáo dục sử dụng nhà trường là nơi chà đạp niềm tin của con em chúng tôi, chà đạp niền tin của gia đình chúng tôi và chà đạp niềm tin của cộng đồng tín hữu. Điều nầy đi ngược lại với Hiến Pháp và Luật pháp. Không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng.
Văn Phòng Mục Sư Đoàn
Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm Việt nam
28-Hồ Tùnh Mậu - Phường Ngyuễn Thái Bình-
Tel : (08) – 8218347. ( Email : iemvn@yahoo.com)