|
Người tù chăn bò ở Gia Trung 1. Dưới tàng cây sao, một người đàn ông khoảng ngoài ba mươi đang chăm chú đánh tranh. Chân trái người đàn ông cụt đến đầu gối. Chiếc chân gỗ, có lẽ do anh tự làm, đứng một mình buồn bã trên nền đất. Cạnh đống tranh đã bện xong, sắp ngay ngắn chừng mươi tấm, một con bò cái đứng uể oải nhai đám cỏ xanh non lẫn với lá mì mà người đàn ông đã chu đáo gom lại thành đống. Cả người lẫn bò đều trầm mặc như nhau. Đêm qua người đàn ông mất ngủ. Nằm trăn trở trên chõng tre, anh miên man nghĩ đến gia đình vợ con và niềm hạnh phúc trong mơ. Hôm nay là ngày đầy năm của đứa con đầu lòng anh chưa thấy mặt. Ngày con gái thôi nôi, chập chững bước chân nhỏ đầu đời, vậy mà bố không có mặt ở nhà. Anh mơ màng đến bước chân trở về khua tiếng gỗ trên khoảng sân gạch trước thềm nhà lẫn trong lời reo mừng trẻ thơ để rồi chỉ nghe trong vọng dậy đêm trường tiếng mình thở dài trống vắng. Người đàn ông ngưng bện tranh, ngước mắt nhìn quanh. Con dốc sỏi vướng bụi đỏ ngoằn ngoèo dẫn lối vào trại tù oan khổ. Vệt khói gầy từ chiếc chòi tranh còm cõi, lay lắt màu lam xám cơ hàn bên dòng suối buồn bã trôi phía dưới chân đồi. Con đường nhựa loang nắng mất hút lối về trong mờ mịt Tây Nguyên. Tất cả chợt lan xa, hoang tàn tĩnh vật. Chỉ còn lại trong hồn anh niềm im lặng thinh không. Người đàn ông ngồi bất động, mắt như im sửng vào một nơi nào đó trong tận cùng suy tưởng. Anh để lại một phần chân trái của mình trên chiến trường đầu tiên. Sau vài tháng kiên gan tập lại chuyện đi đứng với bàn chân nhân tạo tại một trung tâm chỉnh hình, người sĩ quan thương binh trẻ trở về thành phố quê hương làm thầy dạy học. Ngôi trường cũ và mối tình đầu thuở học trò đã giúp anh sống cuộc đời hạnh phúc bình thường. Làm chồng. Sắp làm cha thì cuộc chiến tàn. Gã học trò cùng lớp năm nào theo đoàn người chiến thắng từ rừng rú kiêu hãnh trở về tiếp thu trường cũ. Vinh quang lẫn mặc cảm không được đoái hoài vẫn làm hắn ghen tức nhiều đêm trong cánh rừng mật khu thiếu sinh khí đã khiến hắn quên đi hào khí mà trở thành đanh ác. Ngày khăn gói đi trình diện học tập cải tạo, người sĩ quan miền Nam cầm tay vợ mà lòng rưng buồn chẳng nói được tiếng giã từ. Mắt nàng nhòa lệ tiễn đưa lẫn giọt âu lo cho đứa con đầu lòng đang vào những tháng cuối cưu mang. Phận nước đưa đẩy phận người cùng cảnh ngộ gần lại với nhau. Từ nhiều nơi trên khắp miền Nam, cả ngàn sĩ quan cũ đã bị bắt đi tập trung cải tạo ở Gia Trung, duy chỉ mình anh là thương binh cụt chân. Bạn tù nhiều người đã giúp anh hàng ngày làm xong chỉ tiêu lao động, cùng nhau vượt khó trong tình đồng đội tình người. Năm tù đầu tiên chậm chạp trôi qua trong muôn vàn nhớ thương về gia đình, về người vợ hiền mảnh mai yếu đuối chưa quen chuyện gánh gồng và đứa con thơ chưa hề thấy mặt cha. Ngày nhận lá thư nhà đầu tiên có kèm tấm hình mẹ với bé gái Thiếu-Anh vừa tròn sáu tháng và "giống bố như đúc", người thương binh mừng tủi khóc như một đứa trẻ. Tình vợ chồng và lòng thương con đã giúp anh nương náu từng ngày. Gần đây, hơn một năm sau những ngày cuối tháng Tư năm trước, viên quản giáo trưởng mới của trại từ miền Bắc thuyên chuyển vào gọi anh lên "làm việc". Điều mà anh vẫn từ lâu lo sợ đã đến. Chiếc chân nhân tạo như một phần thân thể của anh từ mấy năm nay thuộc về nhân dân. Anh phải trả chân của mình lại cho nhân dân. Trại cho anh mấy ngày làm đôi nạng gỗ để giúp đi lại. Cách Mạng khoan hồng sẽ giao công tác thích hợp để anh tiếp tục lao động cải tạo. Nghĩ đến những chiếc "hòm" nhôm sáng loáng mỗi cán bộ, vệ binh, hí hửng xách theo khi về Bắc nghĩ phép, người thương binh nhìn xuống viên quản giáo lùn thấp, dằn lòng:
Viên quản giáo khựng biết mình lỡ lời, cặp môi dày thâm khói thuốc lào nhếch nụ cười gằn trên khuôn mặt vừa đanh lại.
Quay ngước nhìn mái hiên tranh lợp dày gần nửa mét, anh khẻ thở dài bước qua khuôn sân bằng phẳng láng bóng. Anh đang bước những bước cuối bằng đôi chân sắp bị tiếm đoạt của mình. Ngày người thương binh tháo chiếc chân giả trao cho viên quản giáo
rồi chống đôi nạng gỗ về trại, anh cảm thấy như chân trái mình đang
rỉ máu. Anh vừa bị cắt mất đi phần thân thể của mình. Nỗi đớn đau
thấm đậm xót xa hơn vết cắt trên da thịt. Nỗi đau chung của một
thế hệ bị lường gạt, bị tước đoạt, lưu đày, trên chính quê hương
mình. Con bò đứng lặng lẽ ở cuối sân, mắt mông lung nhìn khoang trời xanh thẳm, dáng suy tư như một nhà hiền triết đang tiếc thương cho cuộc đời phi lý quanh mình. Anh thương binh chống người trên nạng gỗ thương hại nhìn con bò
già - phần hoán đổi thua thiệt mà anh phải chấp nhận không thể đề
kháng. Anh với cái chân đã bị tước đoạt và con bò già mất năng suất
lao động, đang lơ đãng nhai lại mớ cỏ không hề có trong cái bao
tử lép, đã bị chuyển qua vế thiếu trong một biến trình ngụy chứng
nghịch lý và hồ đồ. Người thương binh chống nạng về phía cô gái. Nàng ngẩng đầu nhìn anh, đôi mắt còn ngấn lệ vướng víu chút e ngại lẫn ngạc nhiên. Cô gái còn trẻ lắm, có lẽ chưa đến hai mươi. Anh ngại ngần tự giới thiệu mình. Cô gái thoáng nhìn gả vệ binh vẫn ngồi chồm hổm trên nền đất đang ồn ào tán chuyện.
Cô gái quay đầu, cố ngăn lòng xúc động đang khơi.
Người thương binh xúc động thả tầm mắt nhìn bãi đồi hoang cháy ngoài kia. Chàng mường tượng đến bầy bò khỏe mạnh ung dung với cỏ mượt trên ngọn đồi xanh. Nhạc chuông ngân nga đọng bóng hoàng hôn theo từng bước chân gia súc chậm rãi trở về chuồng. Tiếng cười con gái hồn nhiên trên đồi chiều bay theo âm nhạc. Phận người. Phận bò. Phận đời cuồng xoay trong vòng biện chứng duy vật điêu ngoa. Những con bò bị sung công, một lần nữa với thân phận đọa đày đang trở thành hiến vật cho cuộc tế lễ thần linh mới.
Cô gái vuốt ve khúc lưng con La gầy nhom trơ xương sườn. Nàng nghẹn ngào gởi gắm sao nghe như tiếng mình đang thốt lên lời tự nhủ.
Cô gái quày quả bỏ đi lúc chiếc xe chở con La rời nhà hợp tác chạy về Gia Trung. Người thương binh biết cô gái đang khóc ròng trên mỗi bước chân nàng. Bấc giác chàng đưa tay vỗ về sống lưng trơ xương của con bò già vẫn nằm im trên sàn xe đang gầm gừ leo dốc.
Một buổi chiều sau khi chống nạng trèo dốc về đến trại, anh cột bò vào chuồng cạnh khu nhà vệ binh rồi mệt mỏi về láng. Bụng đói cồn cào mà thân xác thì chỉ muốn nằm vật ra ngủ vùi. Người thương binh ngạc nhiên khi thấy đông đủ bạn tù đang ngồi quanh chõng tre của anh chờ đợi. Giữa chỏng nhô cao một vật gì đó được đậy kín bằng chiếc tấm đắp. Mọi người nhôn nhao tranh nhau bảo anh nhắm mắt chờ nghe hô 1, 2, 3 xong mới được mở ra. Anh lặng người nhìn trừng trừng chiếc chân giả trên chõng tre mà nước mắt hân hoan đầm đìa trên má. Lời cảm ơn chiến hữu, tình bạn, tình người, khản nghẹn trong nỗi vui ngần ngật choáng váng. Anh chợt biết rất rõ mình có thể đứng thẳng và thách thức mọi điều. Những bàn tay nhân hậu đã nắm chặt lấy nhau tự tại thì có sá chi chút cơ hàn khổ nghiệt. Gần nửa tháng qua, bạn tù trong láng đã âm thầm đo đạc chiếc chân
cũ của anh rồi cùng nhau góp tài năng sáng kiến hoàn thành chiếc
chân mới. Chân đẽo bằng gỗ cây căm-xe rất tinh xảo. Phần để cột
nối vào bắp vế được làm bằng nhựa bọc da rất công phu với những
sợi dây da có nẹp cài chắc chắn.
Buổi tối hôm đó, người thương binh mừng quá quên ngủ. Anh gắn
chân vào, điều chỉnh tới lui, tập đi hằng giờ. Hàng ngày dẫn bò xuống tắm ở dòng suối chân đồi, người thương binh gợi chuyện rồi trở thành thân mật với ông già người Rhadé một mình giữ cháu ở cái chòi rẫy bên bờ suối. Đứa bé trai chưa đầy bốn tháng mà cha mẹ phải bỏ ở nhà nhờ nội trông để đi làm rẫy xa cho hợp tác xã nông nghiệp. Mỗi ngày họ phải ra đi từ rạng sớm đến tối mịt mới về lại chòi. Ông nội già yếu chẳng có chi ngoài nước cơm pha muối để nuôi cháu. Lần anh trao cho người Thượng già nhúm đường cát trắng quậy trộn vào nước cơm, nhìn đứa bé ngon lành nuốt trọn từng muỗng ngọt ngào mà lòng anh bàng hoàng xúc động. Từ đó, mỗi lần bạn tù sớt cho chút đường cát, tán đường, nắm muối, dúm bột ngọt anh đều không quên người bạn vong niên nghèo khó bên bờ suối. Ông già Rhadé cũng cảm tấm lòng người bạn Kinh khổ nạn, chỉ anh giăng bẫy đặt lờ giúp tổ lao động "cải thiện" bữa cơm tối. Gặp ngày "trúng mối" anh hí hửng cất giấu mang về trại con cá nhỏ hay chú thỏ con bằng nắm tay ngờ nghệch sa bẫy. Người và bò với những tấm tranh oằn lưng đếm từng bước mệt nhọc trên con dốc dài trở về trại mỗi chiều hôm. Mùa hè cải tạo thứ hai đang đến trên vùng đày ải núi non với những trận mưa tầm tã nghiêng xám đất trời. Mưa nguồn lê thê đêm tù, mở trừng trừng giấc mộng héo hon, dột nát mái hồn người bơ phờ đất trích. Một buổi sáng sau cơn mưa đầu mùa, anh vội vã dẫn bò lên đồi, thở ra nhẹ nhõm đứng nhìn những tấm tranh bện xong xếp gọn gàng bên đống lá tranh đã phơi chất khô ráo trong chòi. Anh thầm cảm ơn người bạn vong niên. Nghe lời khuyên của ông già Rhadé, anh "tranh thủ" mấy hôm liền dựng chòi. Mái lá lợp xong ngày trước vừa kịp cho trận mưa rừng khai mùa rầm rĩ suốt đêm. Gã vệ binh đứng nhìn xoi bói hồi lâu cái chòi tranh nép mình bên gốc sao già rồi bỏ đi về phía sườn đồi nơi người thương binh đang cắt tranh. Quẩn bên anh là con bò đang phe phẩy đuôi gặm cỏ. Hắn chăm chú đứng quan sát người thương binh với cái chân gỗ đang nhanh nhẹn đi lại gom tranh vừa cắt thành bó.
Câu nói gợi chuyện tan rớt trong tiếng cỏ tranh xào xạc. Hắn nhìn cảnh đồi êm vắng rồi yên tâm vác súng bỏ đi. Bước chân người lính miền Bắc vất vả leo quãng dốc đất mòn trơn tuột. Đôi dép lốp bình-trị-thiên không còn ích lợi gì cho hắn vào lúc này. Người vệ binh lúi húi tháo dép xách tay. Hắn bấm từng bước chân trần rịn thấm đất đỏ cao nguyên ướt loang như máu. Tiếng khóc sơ sinh đòi sữa vẳng lên từ cái chòi rẫy bên bờ suối nghe mà nao lòng. Đã mấy hôm nay anh và các bạn tù chẳng còn chút đường nào để làm ngọt thơm miếng nước cơm loãng nhạt. Tiếng khóc đúng cữ nghe như tiếng kẻng báo cơm buồn bã làm anh cảm thấy đói. Khẩu phần cơm độn mì bới theo, chỉ lưng nửa cái lon gi-gô, anh ăn trọn với muối mà chẳng thấm vào đâu so với cái bao tử lép. Người thương binh thở dài vói tay lấy cái bi-đông nước treo bên gốc cây sao. Anh tháo chân, ngồi tựa vách chòi, lặng lẽ uống từng ngụm nước.
Người thương binh lạ lùng nhìn con bò anh chăn sóc hàng ngày. Anh
nhớ lại con bò trơ xương đứng âu sầu trước sân nhà hợp tác xã hai
tháng trước đây. Bụng con La no tròn xuôi theo bờ lưng đầy đặn,
bóng ửng màu lông vàng sậm, chẳng còn chút vết tích nào của dãy
xương sườn đói khổ. Anh lê người đến bên con bò, vuốt ve lên lớp
da bụng tròn căng. Dãy bầu vú ửng mịn chút màu hồng mơn man dòng
sinh động đang chuyển mình trong rạt rào nhụy chồi hé nụ. Ngón tay
anh bất chợt sờ lên núm vú rịn nhựa hồi sinh rồi sững sờ ở đó. Trong
cơn mơ rất thật, người thương binh cúi đầu xuống vùng phơn phớt
hồng son. Anh nuốt dòng sửa thơm, thấy mình trở về bên thuở sơ sinh
sữa mẹ ẵm bồng. Con La hiền từ nhìn người Thượng già ẵm đẩy miệng cháu vào dãy
bầu vú mịn màng. Khả năng thiên bẩm giúp đứa bé hả miệng nút chùn
chụt dòng sửa ngọt từ bà mẹ mới. Ngón tay nhỏ bé tham lam, sờ nắn
mân mê từng bầu vú đang hồi rịn ràn chất sống. Con La ngẩng cao
đầu, miệng phát ra tiếng gọi nghé trầm trầm run dài vào nỗi nhớ
nào đó xa lăng lắc. Bầy con trai gái của mẹ. Những con bò đực, bò
cái, vừa lớn đã bị sung công. Đứa con nào vẫn hàng ngày thồ kéo
khổ ải, bụng thiếu cỏ khô. Đứa con nào đã bị bức tử vào những ngày
lễ hội vừa qua. Đứa con nào sắp theo số phần của mẹ, chờ đến phiên
mình làm hiến vật cho cuộc liên hoan máu thịt so đo. Tiếng gọi nghé
như chuỗi âm nhạc trầm láy phát xuất tự đáy buồng phổi uất nghẹn.
Âm thanh buồn mà sinh động của sự sống bền bỉ, cần thiết, lớn lên,
thôi thúc. Đó cũng là âm thanh nhắn nhủ về một sự sống đang tới
hồi kết cuộc. Thời gian vẫn trôi. Mỗi hoàng hôn vẫn xuống tiếp ngày
lên. Rồi mùa Thu sẽ đến như sự nhắc lại về một định mệnh rất buồn. Tiếng khóc vọng từ bờ suối khiến người thương binh giật mình trở về với thực tại. Thằng bé hôm nay sao đói sớm quá!? Anh thầm nghĩ, chống tay đứng dậy, loay hoay tra chiếc chân gỗ vào người. Anh thả mắt dài theo con dốc vắng lặng nắng trưa. Vệt đất đỏ ngoằn ngoèo trườn lên cao dần rồi mất hút sau cánh rừng giang im rền một màu xanh thẫm ngút ngàn. Tia nhìn tìm kiếm dừng lại trên chiếc xe đò cũ kỹ vừa dừng ở cuối chân con dốc, nơi ngã ba tiếp giáp với khoảng đường nhựa xám đen loang lổ ổ gà. Chiếc xe đò vô tình để lại đám bụi đỏ mù phủ quanh nhóm hành khách vừa xuống xe rồi chậm chạp lăn bánh theo con tỉnh lộ cheo leo xuôi về hướng đồng bằng. Niềm hi vọng náo nức không tên vừa nhú chợt lả tả lụn tàn theo giấc mơ ngày không tưởng. Người thương binh thất vọng nhìn dáng hai gã vệ binh tay cầm súng đang cắm cúi leo con dốc sỏi. Anh thở dài lên tiếng gọi con La đang cuồng chân đi thơ thẩn trong bãi tranh vàng hanh màu nắng. Người và bò buồn bã dẫn nhau đi về phía tiếng khóc.
|