Hồi ký Cải Tạo

Đôi lời người viết.

Xin để lại đây những ng y tháng nhục nhằn trong trại tù Cải tạo, tuy trong đó có những ý nghĩ, quan điểm v nhận xét riêng của cá nhân nhưng mục đích ho n to n không phải để tranh luận, m chỉ muốn thuật lại những sự thật không thể quên trong đời.

Học tập mười ng y.

Tôi chở vợ đến cổng trường Pétrus-Ký lúc năm giờ chiều, v hai vợ chồng chia tay. Mặc dù cả hai chúng tôi đều sinh trưởng ở S igòn suốt từ thuở ấu thời, lúc đó tôi vẫn cảm thấy vợ mình thật bé nhỏ v lạc lõng, lòng chợt thương nhớ n ng vô hạn, dù chúng tôi chỉ vừa xa nhau chưa đầy một phút, v bóng n ng còn chưa khất hẳn. Nhìn n ng thật mỏng manh tội nghiệp trên chiếc xe đạp một mình quay về nh . Chiếc xe đạp nhỏ n y l kỷ niệm quí giá duy nhất còn lại của hai vợ chồng sau ng y ba mươi tháng tư 1975. Khi chúng tôi mới lấy nhau, tôi thích chở n ng bằng chiếc xe đạp n y chứ không dùng xe gắn máy.

Khi bóng n ng khuất hẳn, tôi quay mình thẫn thờ đi v o khuôn viên nh trường trình diện cải tạo. Đúng như thông báo của ủy ban quân quản th nh phố S igòn “mang theo mười ng y lương thực. Học tập tốt sẽ được trở về với gia đình”. Lòng tôi như chùng xuống, ân hận đã không chờ thêm một lúc nữa hãy trình diện, như vậy còn được ở bên cạnh vợ thêm v i tiếng nữa. Tội cho vợ tôi mới lấy chồng hồi giữa tháng một, đầu tháng năm đã phải xa nhau. Chính tôi cũng cảm thấy mắt mình nhòa đi, hỏi n ng sao khỏi đau buồn.

Đầu óc miên man những lo nghĩ mông lung, không rõ rồi họ sẽ đối xử với mình ra sao. Người v o trình diện c ng lúc c ng đông, khoảng chín giờ tối đã dầy ắp các phòng học. Mười một giờ đêm, những lo nghĩ mông lung ban đầu của mọi người đã biến th nh n-i lo sợ nặng chĩu vì tiếng máy của đo n xe vận tải Molotova vừa ngừng ngo i cổng trường. Chắc chắn chúng tôi sẽ bị di chuyển đi một nơi xa xôi n o đó, không phải chỉ học tập mười ng y ở trong phạm vi S igòn Gia Định như một số anh em đã b n tán hồi chập tối.

Tháng năm trời S igòn dù về đêm vẫn oi ả không dịu bớt chút n o, những chiếc Molotova căng bạt bít bùng, l m sao chúng tôi chẳng lo sợ? Bắt đầu lên xe từ mười một giờ đêm, đến gần hai giờ sáng mới xong, chúng tôi bị dồn v o những chiếc Molotova tối thui. M-i xe nhét khoảng ba chục anh em v hai bộ đội trang bị AK47 ngồi ở hai góc cuối xe chỉa súng nhăm nhăm. Anh em ngồi chặt cứng như những bó giò, muốn xoay trở một chút thật l cả một vấn đề khó khăn. Không khí trong xe rất ngột ngạt, phần vì hai họng AK đen ngòm, phần vì xe được bao kín mít, ngay cả đằng sau ch- hai tên bộ đội ngồi cũng có phủ bạt, không để hở. Tinh cảnh n y c ng l m cho sự lo sợ của mọi người tăng lên gấp bội. Đi học tập sao lại phải bịt kín mít, v di chuyển đêm, để che mắt dân chúng?

Đêm S igòn dạo n y đường phố vắng tanh vắng ngắt. Vốn từng được mệnh danh th nh phố về đêm, đèn mầu luôn rực sáng, xe cộ tấp nập, du khách dập dìu. Từ ba mươi tháng tư, S igòn ban đêm đã ho n to n đổi hẳn, không khác n o một bãi tha ma. Có phải S igòn vẫn còn kinh ho ng vì cái ng y đau thương ba mươi tháng tư? Hay S igòn đã kiệt sức qua những máu lửa ngụt trời? chán chường cho cuộc đổi thay? V chuyến ra đi âm thầm của chúng tôi, S igòn không hề hay biết.



Tiếng xì x o chuyền tai nhau, bắt nguồn từ hai anh bạn ngồi ở hai góc phía đầu xe, họ đã nhận ra lộ trình chuyến đi qua khe hở nhỏ của miếng bạt phía trước. Từ Pétrus Ký, đo n xe theo đại lộ Cộng Hòa ra đường Lê Văn Duyệt hướng thẳng về phía Tây Ninh. Họ đưa chúng tôi lên biên giới Kampuchia!

Tám giờ sáng hôm sau đo n xe v o Trảng Lớn, căn cứ pháo binh của Sư Đo n 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi tạm trú ở đây v được chia ra th nh từng nhóm:

Nhóm một, gồm các sĩ quan từ cấp Thiếu tá trở lên.

Nhóm hai, cấp trung úy trở xuống của các binh chủng Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Tình Báo, v Chiến Tranh Chính Trị.

Nhóm ba, từ Trung úy trở xuống của hai Quân chủng Không Quân, Hải Quân v các binh chủng Thiết Giáp, Pháo Binh.

Nhóm bốn, từ Trung úy trở xuống của các binh chủng Bộ Binh, Địa Phương Quân, v Nghĩa Quân.

Riêng cấp đại úy cũng có một số được xếp v o nhóm hai ở các trại tù trong miền nam. Tuy nhiên nếu l đại úy thuộc Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Dộng Quân v Chiến Tranh Chính Trị, đều bị đưa v o nhóm một với cấp tá. Sau n y tôi được biết Việt Cộng đã liệt các vị thuộc nhóm một v o th nh phần Ngụy quân cấp cao cực kỳ ác ôn, v đưa ra các trại tù cải tạo miền bắc, nhóm hai th nh phần cực kỳ ác ôn có nhiều nợ máu, nhóm ba Th nh phần cực kỳ ác ôn, nhóm bốn Th nh phần ác ôn.

Sau thời gian tạm trú khoảng một tháng, đội ngũ đuợc chia xong. Đại đội họ gọi l đội, trung đội l B, tiểu đội l A. Chúng tôi bị đưa đi lao động khổ sai khắp các trại tù dọc biên giới Việt, Miên, L o. Tôi thuộc tiểu đo n đến trại Long Khánh. v cuộc đời tù binh thực sự khởi đầu từ đó.

Quê hương ta rừng v ng biển bạc.

Đến Long Khánh lúc chập choạng tối. Theo một v i bạn tù cho biết, đây vốn l trại gia binh của sư đo n 18 bộ binh lúc trước. Một ý nghĩ khôi h i chợt hiện đến l m tôi chua xót cuời thầm. “Có ai như chúng tôi, khăn gói tự động trình diện để được v o tù, mặc dù mình chưa hề l m nên tội l-i gì“.

Dù không tin v o bản thông cáo mười ng y học tập, khi đi trình diện, tôi vẫn ngây thơ nghĩ: mình chỉ phải xa nh cùng lắm l khoảng một tới ba tháng, nên đã chuẩn bị h nh trang thật nhẹ nh ng. Mang theo vỏn vẹn chỉ một bộ quần áo cùng hai bộ đồ lót để thay đổi, một ít đồ dùng lặt vặt như b n chải, kem đánh răng , khăn lau mặt. Tất cả để trong một túi nylon cho nhẹ. Một buổi trưa rất nóng ở Trảng Lớn, tôi v o một lô cốt tránh nắng đã tìm được một đôi giầy vải, một chiếc ba-lô v một xấp năm bao cát. Tất cả đều còn mới. Ba-lô v đôi gi y vải đã trở nên vật dụng tiện lợi v cần thiết nhất cho tôi những ng y tháng sau n y.

Tuần lễ đầu chúng tôi ổn định ch- ăn ở, thu dọn trại m lòng lúc n o cũng băn khoăn không biết số mạng mình rồi sẽ ra sao? Long Khánh l vùng cao nguyên. Trời nắng hè, bụi đất đỏ luôn phủ đầy cây lá v mọi vật dụng nh cửa. Khi mưa xuống, đất dính bết v o giầy dép, l m cho chân người đi c ng lúc c ng nặng. Ng y đầu mới đến, trời đã đổ một cơn mưa thật lớn. đôi dép cũ không còn chịu nổi nữa, quai dép sau nhiều lần tuột lên tuột xuống đã đứt mất. Tìm một miếng g- thông mỏng, tôi hì hục mãi, đẽo được một đôi guốc g-. Không hiểu vì sao guốc g- lại ít bị dính đất, v chuyện đi đứng đã dễ d ng hơn. Một tuần lễ sau chúng tôi được báo chuẩn bị hôm sau lên hội trường học tập. Mọi người đều mừng rỡ, nghĩ đã đến lúc học tập tất cũng sẽ có lúc học xong. Nghĩa l chúng tôi còn hy vọng có ng y về.

Do một thượng úy ủy viên chính trị từ trung đo n xuống giảng b i đầu tiên với tựa đề thật bóng bẩy: “Quê hương ta gi u đẹp nhân dân ta anh hùng”. Anh cán bộ chính trị n y thao thao bất tuyệt trên hội truờng:

“Quê hương ta rừng v ng biển bạc. Cả ba miền bắc, trung, nam, đều không thiếu gì sông biển bạc, v rừng rậm v ng tươi…. Nhân dân ta anh hùng, lại có sự lãnh đạo t i tình trong bao nhiêu năm của bác v đảng … Đảng l đỉnh cao trí tuệ của lo i người đã lãnh đạo khéo léo đánh cho Mỹ cút ngụy nh o … bộ đội ta có óc sáng tạo khi đánh Mỹ, chỉ với súng lục v súng trường đã bắn rơi cả máy bay B52 của địch …”.

Tôi nghe tới đó ngẩn người tự nghĩ: “Không lẽ anh cán bộ ủy viên chính trị n y coi chúng tôi l trẻ nhỏ thất học? Nhìn anh ta với vẻ th nh khẩn nghiêm nghị, chắc hẳn đang say xưa với việc thuyết giảng. Không hiểu anh ta có thực sự hiểu mình đang nói gì? hay chỉ học thuộc lòng b i viết sẵn v đọc thao thao như thế. Có một điều tôi dám quả quyết: anh ta tuyệt đối tin tưởng những gì mình đang nói. Đến mục nêu câu hỏi, tôi đã liều đứng lên.

- Nhờ Cán bộ nói rõ thêm ch- nước ta rừng v ng biển bạc một chút nữa tôi không hiểu rõ lắm.

- Thế l anh nghe giảng không được tập trung lắm rồi nhá. Trong b i tôi đã nói rõ r ng, miền bắc nước ta sông ngòi rất nhiều ng y đêm chảy ra biển không ngừng. M biển nước ta thì lạ lắm, mênh mông lúc n o cũng lóng lánh như bạc, đẹp không thể n o tả xiết được. Rừng thì bao phủ khắp cao nguyên bắc phần chạy dọc miền trung v o trong nam ch- n o cũng có rừng. Rừng nước ta rất nhiều loại g- quí như gõ, trắc, gụ, lim vân vân. Các loại g- qúy n y mầu sắc v ng tươi xuất cảng ra nước ngo i rất được ưa chuộng.

Anh còn hỏi gì khác nữa không?

- Máy bay B52 bay rất cao, súng lục chỉ có thể bắn được xa nhất l khoảng năm chục thước, nếu bắn ngược lên cao, tầm bắn có thể còn ngắn hơn thế nữa, vậy l m thế n o m súng lục bắn rơi được máy bay?

- Đó l tại các anh không biết đấy thôi. Các đồng chí anh hùng lái máy bay Mig của ta đã sáng tạo ra một cách để diệt các máy bay Mỹ. Khi ra trận họ tìm một cụm mây to rồi nấp v o trong đấy tắt máy nằm chờ, như thế còn tiết kiệm cả xăng nữa đấy nhá. Bất thình lình khi chiếc máy bay B52 vừa trờ đến l đồng chí ấy mở máy rồi bay ra chẹt ngay đằng đầu m bắn l m cho chúng nó không kịp giở tay v bị rơi rất nhiều. Về sau tụi giặc lái Mỹ hoảng vía không dám bay cao nữa, cứ khi n o v o đến vùng thả bom thì nó bay x x xuống thật thấp, v bị quân dân ta dùng súng trường v súng lục bắn rơi. Chính tôi cũng đã dùng khẩu súng n y hạ được một chiếc hồi chiến dịch mùa hè đấy nhá. Nói đến đây anh cán bộ giảng viên chính trị đưa tay trỏ v o khẩu K54 đang đeo bên hông với vẻ mặt đầy kiêu hãnh.



Đánh tư sản.

B-ng dưng sáng nay Long Khánh trở lạnh . Những l n gió sớm cao nguyên lùa v o trại l m mọi người đều rùng mình. Tôi lặng lẽ đi l m, đầu óc suy nghĩ vẩn vơ. Đi chung toán với Tạo, Tạo nguyên l trung úy nhẩy dù, rất gan dạ, khi còn trẻ thường hay ngang t ng phá phách coi trời bằng vung. Sáng nay Tao tuy có hơi co ro nhưng vẫn tươi cười xông xáo như thường lệ, quả không hổ danh thiên thần mũ đỏ.

Nguyên cả A không ai l không nao núng sau buổi tối qua, chỉ có anh bạn dù n y l không tỏ vẻ gì chán nản cả. Tôi cẩn thận đảo mắt nhìn quanh, khi chắc chắn không ai ở gần có thể nghe được đối thoại của chúng tôi mới hỏi.

“Chắc m y biết r nh khu n y hả Tạo?”

Tạo cũng đảo mắt vòng quanh như tôi rồi tủm tỉm

“Vùng n y, trước đây tao đã dẫm nát cả rồi“.

Tôi v Tạo không những cùng chung A, ch- ngủ còn ở ngay bên cạnh nhau nữa, vì vậy tuy mới hơn ba tháng m tình bạn đã thân thiết lắm.

Đưa tay rờ gấu áo, thấy chiếc nhẫn cưới vẫn nằm ẩn an to n trong đó, lòng cảm thấy ấm lại đôi chút. Chiếc nhẫn cưới n y tôi quyết không nộp ra.

Hôm qua chúng tôi được lệnh phải nộp tất cả t i sản cá nhân cho tiểu đo n cất giữ. Bao gồm mọi thứ như đồng hồ đeo tay, nhẫn cưới, dây chuyền, tiền mặt v . . v . . . Chỉ trừ quần áo v đồ ăn. Tôi nghĩ: tù nhân, mạng còn chưa biết sống nay chết mai ra sao, lo gì đến những vật ngoại thân đó, tuy vậy nhưng lòng lại ấm ức. Nộp tiền có thể cho l đúng đi, vì trong trai tù kín mít cũng không thể mua bán gì được, nhưng đồng hồ hay nhẫn cưới cũng phải nộp thì vô lý qúa. Thủ tục gom đồ nộp cũng không minh bạch, không có danh sách liệt kê các món đồ v tên người nộp. Nếu sau n y học tập xong được cho về, liệu cán bộ có chịu lục tìm trong đống đồ lung tung như thế không? v nếu chịu tìm, l m sao có thể tìm ra được món đồ không có ghi tên đây? biết bao nhiêu cái đồng hồ giống hệt như nhau? Nhẫn cưới hoặc dây chuyền lại c ng khó phân biệt hơn? Nếu tìm không ra rồi mới tính sao? Thêm nữa, các món n y có bảo đảm còn nguyên vẹn cho đến lúc chúng tôi về hay không? Hoặc mấy ng y nữa chúng tôi lại chuyển trại thì sao đây? Cuối cùng tôi đã quyết định dấu chiếc nhẫn cưới v o gấu áo, dấu đồng hồ v o quai ba-lô v may lại như cũ.

Buổi chiều nộp đồ xong cũng đã gần tối. Đêm đó khoảng hai giờ rưỡi sáng b-ng có lệnh di chuyển. Chúng tôi được lệnh ra sân tập họp với tất cả h nh trang trong vòng mười lăm phút để lên xe. Cũng may tôi không có nhiều thứ lỉnh kỉnh. Một tấm chăn tự l m bằng vải bao cát m tôi đã nhặt được từ Trảng Lớn, một chiếu nylon nhỏ mang theo từ ng y đầu trình diện, một lon sữa Guigo dùng để nấu nước uống. Tôi nhét tất cả v o ba-lô, ra sân nhìn quanh mới có hai ba người. Lạ thật, mới vừa ổn định trại v dù đã bắt đầu học tập chính trị, nhưng mới có một b i sao đã di chuyển? v chuyển trại sao không thấy xe cộ gì cả? mấy nghi vấn n y của tôi không bao lâu đã được giải đáp ngay.

Các anh m-i người đứng cách xa nhau một khoảng nhỏ v b y hết đồ của mình ra trước mặt. Mọi thứ đều phải mở ra sẵn s ng.

Khi mọi người đã đủ, cuộc khám xét bắt đầu. Đại đội của tôi do một thiếu úy cán bộ Việt cộng l m đại đội trưởng. Anh cán bộ n y bắt chúng tôi phải lộn trái hết các túi áo túi quần để xét. Một số anh em hồi chiều còn dấu tiền v dây chuyền không chịu nộp, giờ không những bị lấy hết m hôm sau còn bị họp kiểm thảo: Nặng tư tưởng tư bản, không tin tưởng v o cách mạng. Ba-lô của tôi cũng bị lộn trái ra lục kỹ lưỡng. Té ra chúng tôi chẳng có di chuyển đi đâu cả. Đây chỉ l cách để chúng tôi phải lộ hết những đồ còn dấu chưa chịu nộp hồi sáng cho họ lột sạch, vì họ không tin chúng tôi chịu dễ d ng nộp hết mọi thứ.

Tối đó mọi người phải lên hội trường họp. Cả tiểu đo n nghe chửi về tội không thật lòng tin tưởng v o đảng v nh nước.

“Các anh đã dấu diếm không chịu nộp hết những đồ tiểu đo n ra lệnh nộp. Đây l vì các anh đã không tin tưởng cán bộ, không tin tưởng đảng v chính sách của nh nước. Như vậy l m sao các anh học tập mau tốt được? Hơn thế nữa, những của cải của các anh đang có cũng do bóc lột nhân dân m ra, nay còn luyến tiếc, chưa dứt được đầu óc tư bản. Các anh phải kiểm điểm lại. Tối nay về họp A thảo luận cho kỹ c ng. Có từ bỏ được những tư tưởng tư sản thì các anh mới học tập tiến bộ được”.

Sau n y, tôi không hề nghe có người tù cải tạo n o ra về được trả lại những gì đã nộp. Qủa thật l một lối ăn cướp thật tinh vi. vừa ăn cướp vừa la l ng, kết quả tội vẫn đổ lên đầu chúng tôi.

Học tập.

Thời gian ở Long Khánh, chúng tôi không đi lao động xa trại quá một cây số. L m những việc lặt vặt trong phạm vi doanh trại, như cuốc đất l m vườn, trồng trọt, hoặc l m cỏ khai hoang. Có lẽ vì còn đang ở giai đoạn đầu. Các sư đo n bộ đội sau cuộc chiến chiếm miền nam chưa ho n to n ổn định. Việc tổ chức quản trị các trại cải tạo chưa được sắp xếp ho n tất.

Học tập cải tạo chính trị chỉ l một cách nói bóng bẩy của đảng Cộng Sản Việt Nam để trấn an người dân S igòn nói riêng, v dân miền nam nói chung. Thật sự chúng tôi không có b i học n o nói về thể chế chính trị, về nền h nh pháp, hoặc tư pháp của chính quyền đương thời. Cũng không hề nói gì về sự th nh lập của đảng cộng sản v nh nước Việt cộng. Không nói về hiến pháp cũng như quyền lợi v trách nhiệm của người dân, không hề nói về chủ thuyết cộng sản. Tất cả đều tập trung v o ba mục đích chính.

1- Bắt chúng tôi phải công nhận đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ chí Minh sáng lập, l đỉnh cao trí tuệ lo i người, đã đánh đuổi Mỹ ngụy, lo cho dân tộc ấm no hạnh phúc. Chúng tôi phải tuyệt đối tin tưởng v o đường lối đảng đề ra không thắc mắc, lại c ng không được chỉ trích, vì chỉ trích l phản động gây rối.

2- Phải tự nhận, l những người đã l m tay sai cho Đế Quốc Mỹ, giết hại đồng b o. Nay được cách mạng khoan hồng cho đi học tập cải tạo.

3- Phải tích cực lao động đóng góp cho xã hội chủ nghĩa. V phải tuyệt đối an tâm học tập.

Thấm thoát đã hơn năm tháng qua. Không hiểu các bạn khác ra sao? Riêng tôi những ng y tháng n y thật buồn thảm. Nhớ nh , thương cha mẹ v đ n em nhỏ, không rõ cuộc sống dưới chế độ mới cơ cực như thế n o? V nhất l thương nhớ người vợ mới cưới. Ng y cũng như đêm, khi l m việc cũng như lúc ngồi nghỉ. Lúc n o đầu óc cũng có bóng dáng người vợ m tôi hết lòng yêu thương. Không hiểu bây giờ n ng đang l m gì ? Ở đâu ? Có được bình an? hay đang phải vất vả vật lộn với cuộc sống kìm kẹp khó khăn m Đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt lên đầu người dân miền nam? N ng có nhớ đến tôi như tôi hiện đang nhớ n ng quay quắt.

M-i ng y lao động một gắt gao, nặng nhọc thêm. Lao động khiến chúng tôi không còn thì giờ rảnh rang suy nghĩ. Thời gian dường như muốn dừng hẳn lại. Phần ăn m-i ng y một ít đi, ăn uống thiếu thốn khiến mọi người không còn sức phản kháng, dù chỉ l phản kháng bằng lời nói. Ba tháng đầu chúng tôi còn được phát gạo. Không hiểu gạo đã chôn ở đâu? từ bao lâu? hạt gạo vừa v ng vừa xốp. Khi vo gạo nấu cơm nếu ch mạnh tay một chút, hạt gạo lập tức vỡ tan ra thật dễ d ng. Những anh em phụ trách nấu ăn trong ng y thường đổ đầy nước v o chảo gạo thật lớn, quấy sơ sơ mấy vòng cho gạo lắng xuống rồi gạn nước. Một số những con sâu gạo mập mạp ngộp nước nổi lên được gạn đi. Gạn như thế khoảng hai ba lần, chảo gạo có thể nấu, vì nếu l m nhiều lần gạo sẽ hết cám. Có một số anh em nay đã bị phù thủng rất cần vitamin C trong cám. Ban đầu, ban nấu ăn còn ngồi nhặt sâu. Những con sâu không biết sống trong các bao gạo n y từ bao giờ đã to gấp bốn năm lần hạt gạo, chúng nhả tơ l m tổ dính quyện những hạt gạo v o th nh một cục to bằng đầu ngón tay cái. Sau vì nhặt sâu vừa mất qúa nhiều thời gian, lại tốn mất nhiều gạo, vì số lượng sâu nhiều vô kể, nên anh em đã đồng ý không nhặt sâu nữa. Sau v i lần gạn nước cho bớt sâu, còn lại cứ để nguyên thế m nấu. dù sao thì cũng l sâu gạo! lúc đầu ăn còn thấy sợ, sau đói qúa cũng phải nuốt tuốt. Ăn riết rồi cũng quen. Ng y hai buổi sau khi lãnh cơm, chia m-i người được hơn một chén nhỏ. Nếu để cả sâu hy vọng chén cơm có thể đầy thêm một chút. Buổi sáng được phát nửa chén cháo to n nước, đi l m đến giữa trưa. Thức ăn m-i tháng một lon muối hột đen ngòm những đất, muốn dùng được phải hòa tan ra nước, lọc sạch rồi đem đun sôi. Hai tháng một lần m-i A được phát một bó rau muống. Bắt đầu khoảng hai tháng nay, chúng tôi không còn được phát rau nữa. Gạo cũng đã hết, v thay bằng Bo-Bo. Lúc đầu ăn Bo-Bo không quen nên chúng tôi c ng đói thêm. Tuy không quen nhưng nhờ bo-bo còn mới nên những anh em bị phù cũng dần dần được l nh lại.

Hy vọng ba tháng học tập của tôi đã thực sự trở th nh hão huyền. Vả lại lao động v họp kiểm thảo c ng ng y c ng gắt gao. Một chút rảnh r-i nhớ về gia đình v người vợ mới cưới cũng không đủ, còn thời gian đâu để nghĩ về chuyện khác.

Liên tục một tuần nay, theo lệnh cán bộ. Tối n o tôi cũng bị đưa ra A để anh em phê bình kiểm thảo về tội dám chất vấn cán bộ chính trị về thời gian học tập, l m lung lạc tinh thần của anh em cải tạo. Nguyên sau buổi học tập về đề t i “Tất cả những ai trong quân đội VNCH đều l tay sai đế quốc Mỹ v đều có tội với nhân dân“. Tôi đã nêu lên câu hỏi:

- Thưa anh, khi nh nước ra thông cáo cho to n thể chúng tôi đem theo lương thực đủ ăn muời ng y, đi học tập trở th nh công dân tốt của xã hội mới. Học tập tốt, sẽ được thả về đo n tụ với gia đình. Chúng tôi đã thi h nh triệt để, trình diện đúng ng y. Nhưng nay đã hơn sáu tháng, vẫn chưa nghe nói gì cả. Vậy học tập thế n o l tốt? V bao giờ chúng tôi mới được thả? Hay nh nước đã quên thông cáo lúc trước?

- Anh xuyên tạc thông cáo của nh có ý định tuyên truyền để l m xao động lòng anh em phải không n o? Nh nước nói đem theo lương thực đủ ăn mười ng y, đâu có nói các anh sẽ đi học tập mười ng y. Anh rõ r ng l ngoan cố không chịu an tâm học tập chỉ mong ngóng ng y về. Tối nay về họp A, anh phải kiểm thảo lại l-i lầm của mình cho thông suốt“.

Tôi nghĩ thầm, tên cán bộ n y đã nói hắn có thể dùng súng K54 để hạ được máy bay B52, l m sao mình có thể lý luận lại với hắn. Hơn nữa vậy cũng coi như câu hỏi đã được trả lời, tôi đ nh ngồi xuống. Cũng chỉ vì câu hỏi đó tôi đã bị chú ý, v sau n y bị h nh hạ khổ sở.

Ngụy phá hoại l m nổ kho đạn.

Cả tuần nay trời nắng gắt, cỏ xung quanh trại v ng khô, nhất l phía bên kia h ng r o, ch- dẫy Barrack luôn luôn đóng kín cửa, sau n y tôi mới biết đó l kho đạn, cỏ khô dầy, cao ngang đầu gối. Sát vòng r o kẽm gai, tháng trước chúng tôi đã đ o một giao thông h o khá rộng, lấy đất gánh về giữa trại vun luống trồng khoai lang v khoai mì. Đ o giao thông h o cạnh vòng r o trại không phải chỉ để lấy đất, bởi chúng tôi có thể cuốc đất vun th nh luống ngay tại ch-, mục đích có lẽ nhằm l m nản chí những ai trong chúng tôi mang ý định vượt trại, vì sẽ phải vượt thêm một chướng ngại vật nữa, V cũng có lẽ nhằm l m cho chúng tôi thêm mỏi mệt, không còn nghĩ đến việc chống đối, hay bạo động. Vừa phải l m việc nặng quần quật cả ng y lại thêm ăn uống thiếu thốn, dù ai to lớn khoẻ mạnh cách mấy, tất cũng phải mềm nhũn thôi.

Hôm nay tôi lãnh công tưới rau cho B. Ra phía sau trại lấy thùng v đòn gánh, thoáng thấy một bộ đội đang châm lửa đốt cỏ khô phía ngo i h ng r o. Nắng gắt mấy ng y liền, cỏ cháy rất mau. Khi tôi tưới được gần hai luống rau, bãi cỏ bên hông barrack cháy đã gần phân nửa, trong đám cháy thỉnh thoảng có tiếng đạn nổ. Lẫn trong cỏ có những viên đạn, có khi nguyên cả dây dạn đã rớt từ hôm ba mươi tháng tư trong lúc h-n loạn, lâu lâu chúng tôi vẫn thường thấy khi l m cỏ. Do đó lửa cháy, đạn phát nổ không l m chúng tôi mấy ngạc nhiên. Chợt có tiếng nổ l m mọi người đều giật mình, vì tiếng nổ khá lớn, v chỉ v i giây sau lại có thêm những tr ng nổ tiếp tục dòn dã, khiến mọi nguời đều dừng tay ngẩng nhìn. Ch- đang cháy nguyên day đạn đại liên phòng không 50 ly đang nổ, đầu đạn bay tứ tung. Một viên bay xẹt ngang đầu l m tôi theo phản xạ tự nhiên vội cúi rạp xuống. Có mấy viên khác bay thẳng v o dẫy Barrack, v sau đó, cả dẫy Barrack cũng bắt đầu phát nổ. Tôi quăng thùng nước tại ch-, ngồi sụp xuống giữa hai luống rau. Kho đạn chính thức bắt đầu nổ khoảng mười giờ trưa. Anh em tù ai cũng bỏ dụng cụ l m việc chạy tìm ch- núp. Đủ mọi loại đạn lớn nhỏ, đạn đại liên phòng không, đạn súng cối 60 v 81 ly, đạn đại pháo 105, 155 ly của Việt Nam Cộng Hòa, đạn súng cối 61 v 82 ly, đạn hỏa tiễn chống chiến xa B40, B41, hỏa tiễn 122 ly của Việt Cộng. Đạn bay tứ tung. “Phịch”, tôi đang nằm giữa hai vồng lang chợt nghe tiếng trái đạn rớt rất gần, vội ngẩng nhìn. Một viên đạn cối 81 ly rớt ngay trước mặt, chỉ cách khoảng hai thước. Lăn vội qua vồng lang bên cạnh, hai tay ôm kín đầu, chờ một phút sau viên đạn vẫn chưa nổ. Chắc số tôi chưa đến lúc chết, trái đạn không nổ. Tôi liền chồm dậy cắm đầu chạy ra phía giao thông h o. Nhẩy xuống đó thấy có sẵn một số anh em khác nhanh chân tới trước. Đạn nổ suốt ng y, mãi đến gần nửa đêm mới hết. Không hiểu đây l kho đạn cũ của Việt Nam Cộng Hòa để lại hay kho đạn mới do Việt Cộng vừa gom v o? m đạn có đủ mọi loại của cả đôi bên.

Trong vụ nổ kho đạn, tiểu đo n tôi có anh bạn đại úy bắc sĩ quân y chết. Trái lựu đạn rớt trúng ngay ch- núp, nổ liền khiến anh không kịp tránh, miểng lựu đạn xuyên giữa ngực, anh đã chết liền tại ch-. Hai tiểu đo n bên cũng có m-i tiểu đo n hai người chết. Người cán bộ đốt cỏ, chết vì trúng đạn đại liên 50 ly ngay từ phút đầu. Anh em chúng tôi bị thương nặng nhẹ rất nhiều. Mấy ng y sau lên tiểu đo n khai bệnh xin thuốc trị thương được phát m-i người một gói muối hột. Vẫn biết, dù khai bất cứ bị bệnh gì cũng thế, từ sốt rét ngã nước, cảm cúm, tiêu chảy, đến trật gân gẫy xương, hay ói mửa trúng độc, đều chỉ được phát duy nhất một thứ thuốc đó l muối hột. Nhưng trong tù không có thuốc sát trùng, chúng tôi đ nh khai bệnh lấy muối pha nước rửa vết thương.

Ba ng y sau, Cán bộ tiểu đo n tập họp chúng tôi lên hội trường để giải thích về vụ nổ như sau: Các anh đã chính mắt thấy rõ r ng đấy nhá, bọn Mỹ Ngụy thật l độc ác, đã bị đập tan từ lâu m vẫn còn tìm đủ mọi cách để phá hoại. Chúng đã cho đặc công lén lút l m nổ kho đạn. Tuy tiểu đo n đã bắt được hai tên phá hoại, nhưng kết quả một cán bộ đảng viên cũng đã chết. V trong các anh cũng có mấy người chết vì vụ nổ n y.

Cả tháng sau đó, chúng tôi họp A vẫn phải học tập về tội ác Mỹ Ngụy đã l m nổ kho đạn. Sau n y trong một dịp thăm nuôi, vợ tôi cho biết vụ nổ đã l m xao động dân chúng ngo i trại. Nh nước Việt Cộng loan báo cùng dân chúng S i Gòn: có một bọn ngụy quân phá hoại l m nổ kho đạn trong trại tù, nhưng cán bộ quản trại đã bắt được bọn phá hoại v bảo vệ an to n cho cải tạo.

Cây C Chớn.

Những ng y cuối năm 1975, với tôi, l những ng y lê thê nhất trong đời. Tết Mậu Thân khi Việt Cộng tr n v o S igòn, cướp đi mùa xuân an l nh, vui tươi của người dân miền nam. Đường phố tấp nập, dập dìu muôn mầu áo bay lượn của các cô gái, chen lẫn mầu sắc của h ng ng n đóa hoa trong chợ hoa dọc đường Nguyễn Huệ, hòa với những cánh bướm chập chờn trong nắng, như muốn đua sắc cùng những bông hoa biết nói, gợi lên n-i rộn rã tưng bừng đầy êm ấm v o lòng người, đã thay bằng im lặng, vắng vẻ, đầy lo âu. Thỉnh thoảng một v i người vội vã trên đường về, khuôn mặt vừa lo âu vừa hốt hoảng. Những tiếng pháo nổ vang thay bằng tiếng súng AK47 v hỏa tiễn pháo kích. Cái tết máu lửa đó vĩnh viễn nằm trong tiềm thức tôi. Nhưng những ng y đó vẫn không d i lê thê ảm đạm như những ng y tết trong tù cải tạo.

Chúng tôi đều l những người đã d y dạn khói lửa. Có người từng trải qua những giây phút thập tử nhất sinh xác chết cận kề, vẫn không hề nháy mắt cau m y. Có người trọn đêm d i chong mắt trên biển vắng hải h nh, đưa chiến hạm tuần tiễu bảo vệ vùng biển quê hương, v đôi mắt vẫn đầy tinh anh. Nay trong vòng r o trại tù, hình như mắt anh em ai cũng rưng rưng uất nghẹn. Anh Lạc, người lớn tuổi nhất trong tiểu đội được cử l m anh nuôi, phát cho m-i chúng tôi một vắt cơm nếp anh đã nấu từ tờ mờ sáng. Hôm qua m-i tiểu đội được lãnh một lít nếp, cán bộ nói đó l nhờ lòng ưu ái của đảng v nh nước.

Tết năm trước, tuy chiến tranh đang đè nặng trên to n quốc, S iGòn vẫn tưng bừng đón xuân. Tôi đã chở vợ, lúc đó còn l người yêu chưa cưới, đi Lăng Ông xin xâm. Nhìn n ng tha thướt trong t áo lụa v ng, thật vui tươi, thật hồn nhiên m lòng tôi cũng nao nức rộn rã. Giờ đây xa nhau tôi mới nhận thức được, n ng chính l nguồn sống của đời mình. Nhớ đến n ng, miếng cơm tôi vừa bỏ v o miệng b-ng như nghẹn ở cổ, mắt tôi mờ hẳn đi. không muốn các bạn thấy mình bật khóc, v nhìn quanh ai cũng rưng rưng. Tôi bỏ nắm cơm xuống ch- đầu nằm, chạy vội ra ngo i rủ Tạo đi coi đấu cờ tướng cho khuây khỏa. Trại được nghỉ lao động ba ng y tết, đã tổ chức các trận đấu bóng chuyền, túc cầu, cờ tướng, giữa các B với nhau cho anh em vui tết. Tôi vẫn thấy những ng y tết n y thê lương v d i dằng dặc, vui sao được m vui! Tết n y gia đình tôi ngo i đó có vui vẻ như xưa? Vợ tôi đang ở đâu? N ng có vui vẻ hồn nhiên như ng y chúng tôi còn bên nhau? Khi tôi đi n ng vừa có mang, nay đã sanh chưa? Nếu đã sanh, sức khỏe mẹ con n ng ra sao? Đứa con đầu lòng của chúng tôi l trai hay gái? Chắc dễ thương lắm? Những câu hỏi n y cứ quẩn quanh trong đầu ng y đêm không thể giải đáp. Lòng nhớ nhung người vợ trẻ l m tôi cứ thẫn thờ, v tết đã trở nên vô nghĩa.

Cái tết buồn thảm ấy rồi cũng qua đi. Chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc sống nhục nhằn. Ng y ng y l m việc nặng nhọc quần quật từ sáng tới tối, còn phải nghe những lời trái tai vô lý của những người cai tù thâm hiểm, phải l m vẻ ngu khờ gật đầu đồng ý để sống cho qua kiếp tù đ y. Sống với niềm hy vọng mong manh, một ng y n o đó sẽ được thoát về. Nhiều lúc tôi có cảm tưởng như mình đang bị bao vây giữa một đám người tiền sử ngô nghê, không văn hóa. Với vũ khí trong tay họ cưỡng ép chúng tôi phải tin chung niềm tin với họ. Nhưng chính họ cũng không hiểu rằng họ đã bị giới lãnh đạo đầu độc lâu ng y, nhồi v o đầu họ những hiểu biết nông cạn vô lý, hoặc có khi còn đi ngược hẳn với lý lẽ thông thường. Cán bộ chuyền radio v o loa trên cột cao hai góc trại, suốt ng y đi l m mệt mỏi, tối về phải nghe những lời dối trá bịp bợm của bọn cầm quyền Việt Cộng trên đ i phát thanh tới nửa khuya, thiệt l dở khóc dở cười. Một phút trước đ i loan tin: năm nay dân ta chịu nhiều thiên tai, ba tháng trước miền Trung có bão lớn dọc từ Thanh Hoá xuống Thừa Thiên. Tháng trước bão lại thổi qua miền Thanh Hóa Nghệ Tĩnh, v tuần n y khắp đồng bằng miền nam đang bị lụt lớn. Một phút sau đ i đã trắng trợn tuyên bố: kết quả vụ thu hoạch lúa mùa năm nay so với năm ngoái, miền bắc tăng gấp ba, miền nam tăng gấp đôi.

Một buổi chiều , tôi v Tạo vừa tưới xong mấy cây c chua, đang định cùng nhau ra giếng lấy thêm nước. Một cán bộ đi ngang qua lên tiếng khen thưởng:

- Hai anh n y giồng được mấy cây c chua chất lượng đấy nhỉ. Các anh có bón phân nhiều không m cây lắm quả thế?

Tôi đảo mắt nhìn quanh trước khi trả lời

- Ch o cán bộ. Tôi chẳng phải tưới phân gì cả đâu, chi tưới độc có nuớc đái thôi đấy!

- Ờ, thế thì phải rồi! Trách gì c anh cấy sai quả, nhưng quả lại không được to. Các anh phải tưới phân thì quả mới to được. Ở ngo i Bắc có nhiều người giồng c chua, tưới phân đúng cách quả ra to gần bằng quả bóng đá vậy đấy.

Tạo nhìn tôi, nháy mắt v nói:

- Ô! Tôi biết loại c m cán bộ nói rồi! Nhưng loại c n y khó trồng lắm! Ở miền Nam hình như đã bị mất giống rồi. Nghe b nội tôi nói loại c đó tên l “c chớn”.

Nghe Tạo nói, tôi giật mình đảo mắt nhìn quanh nghĩ bụng “cái anh ch ng Nhẩy Dù n y quả nhiên rất gan lì”. May mắn, vẫn chỉ có hai chúng tôi cùng anh cán bộ đang mỉm cuời khoái chí kia, nếu không, “Ang-ten“ nghe được, chắc chắn hai đứa tôi sẽ phải ốm đòn.

- Anh n y nói đúng rồi đấy, đúng l c chớn đấy.

Hú vía!!! mọi người ai nấy đều bận với công việc đang l m, không chú ý đến cuộc nói chuyện của chúng tôi.

Lon Guigo đựng cơm.

Tôi thuộc đại đội một, Hạ ở đại đội ba. Tuy l bạn cùng khóa Hải Quân nhưng chúng tôi không mấy thân, nay dù ở cùng trại tù, gặp nhau cũng chỉ ch o hỏi sơ s i. Vả lại từ ch- tôi qua ch- Hạ, phải đi ngang trạm gác v bộ chỉ huy cán bộ coi tù, nếu không vì đi công tác lao động, hay vì chuyện cần thiết, thường ai cũng ngại đi ngang đó.

Lúc còn ở quân trường , Hạ thường trầm lặng ít nói, không phá phách đùa giỡn. Đôi khi bị các bạn chọc phá, Hạ chỉ cười bẽn lẽn. Khi ra trường, Hạ nhận đơn vị đầu tiên l giang đo n 70, thuộc Hải Đội 5 Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ Hải Quân. Năm 1973, trong một dịp đơn vị tôi hộ tống t u dầu v o tiếp tế cho căn cứ Nam Căn. Gặp Hạ lúc đó thấy anh đã thay đổi nhiều. Tuy vẫn dáng gầy gầy nhưng nước da đã sam đen, trông khoẻ mạnh hẳn ra. Anh đã ho n to n mất hẳn cái dáng công tử yếu đuối của ng y mới nhập ngũ ở trại tạm trú Bạch Đằng Hai. Có lẽ những tháng năm lăn lóc d y dạn chiến trường, với những trận chạm trán sống chết cùng Việt Cộng ở vùng đầm lầy nước mặn đã nung đúc anh trở nên rắn rỏi với đầy nét cương nghị.

Chiều nay đột nhiên Hạ đến thăm v ngỏ ý muốn đổi tấm chăn của anh cùng nải chuối chín lấy chiếc áo mưa. Anh nói vì không có áo mưa, mùa hè Long Khánh lại hay mưa tầm tã suốt ng y, khi đi lao động thường bị ướt. Tôi đưa tặng Hạ tấm poncho mới đã nhặt được khi còn ở trại Trảng Lớn. Hạ không chịu lấy không, nhất định ép tôi phải nhận vật trao đổi. Kết quả tôi đ nh nhận tấm chăn, dù sao tôi cũng đang cần chăn, v bẻ mấy quả chuối cùng ăn với Hạ cho anh ta vui. Nhìn thấy mắt Hạ sáng hẳn lên khi cầm chiếc poncho trong tay tôi cũng cảm thấy an ủi.

Ba giờ rưỡi sáng đêm đó, to n trại b-ng có lệnh điểm danh bất thuờng. Khi các đại đội đã tập họp đầy đủ ngo i sân, cán bộ v o lục lọi trong trại rất kỹ luỡng, tuy không rõ vì sao, nhưng chúng tôi cũng đoán được đã có chuyện bất thường xẩy ra trong đêm. Sáng sớm khi chuẩn bị đi lao dộng, nghe anh bạn B trưởng nói tôi mới biết đêm trước đã có năm người trốn trại, trong số đó có Hạ. Thì ra Hạ cần áo mưa v ép tôi nhận tấm chăn l vì thế. Tôi thầm mong cho anh trốn thoát, đừng gặp trở ngại. Một tuần sau, trong số người trốn trại có ba người bị bắt lại cùng với Hạ.

Hạ bị bắt lại hai ng y sau thì tôi bị gọi lên tiểu đo n. Trong lòng hồi hộp không biết vì chuyện gì, khi bị dẫn v o phòng kín có bốn tên bộ đội đeo AK đứng canh bốn góc, tôi biết lần n y thiệt dữ nhiều l nh ít.

- Cách mạng khoan hồng cho anh học tập cải tạo sao không biết hối cải còn định trốn?

- Tôi còn đang đứng đây m , đâu có trốn trại đâu?

- - Chúng tôi biết rõ anh móc nối, trốn trại m vẫn còn chối hả. Anh phải nên khai cho rõ r ng đi, đã móc nối được những ai n o ?

Nếu chúng biết rõ r ng sao còn phải tra hỏi mình l m gì? chứng tỏ chúng chỉ nghi ngờ v muốn tìm cách chặn đầu mình thôi.

- Tôi không hề có ý trốn trại, cũng chẳng có móc nối hay tổ chức gì cả.

Chưa dứt lời b-ng như có ai đập mạnh v o lưng l m mắt tôi hoa lên. Chắc hẳn tôi đã bị tên đứng phía sau dộng một báng AK ngay lưng trong lúc đang nói. Tôi không còn nhìn rõ tên bộ đội trước mặt, mắt tôi đã mờ hẳn đi, v đầu óc choáng váng, ngã chúi về truớc. Tuy thế tôi vẫn thoáng thấy tên đứng phía trước đưa chân đá cho tôi bật ngược dậy. Theo phản ứng tự nhiên tôi vòng tay ôm ngực v co người lại bảo vệ ch- nhược. Bị cú đá đó bật nghiêng người qua phải, tôi chưa kịp gượng lại đã bị tên bên phải đạp bồi một đạp v o vai, tôi té qụy xuống.

- M y vẫn còn ngoan cố ? thế ai đã tiếp tế áo mưa cho thằng Hạ trốn trại n o?

Thấy tên cán bộ đã đổi giọng l- mãng m y tao, không biết hắn vì tức giận đã không l m được cho tôi khai theo ý muốn, hay vì muốn tỏ sự hung hãn để tôi sợ m khai. Tôi chờ một chút, để trấn tỉnh rồi mới trả lời:

- Tại tôi có dư một cái áo mưa, anh Hạ dùng chuối để đổi, tôi thích chuối mới chịu đổi thôi, chứ đâu có biết anh ta chuẩn bị đồ dùng vượt trại đâu.

Đúng đã có “angten” mách lẻo nên tụi nó mới biết chuyện tôi đưa áo mưa cho Hạ.

Trong lúc bị đánh, tôi được biết, họ liệt tôi v o th nh phần ngoan cố không chịu hối cải học tập, còn có ý nêu những câu hỏi bóp méo chính sách cải tạo của cách mạng, cố tình sách động, gây hoang mang cho anh em. Bằng chứng l trong buổi học tập chính trị đầu tiên, tôi đã chất vấn cán bộ về lệnh học tập muời ng y. Giờ đây còn thêm tội tổ chức tiếp tế cho người trốn trại.

Tôi trước sau chỉ nói: Vì mình không hiểu rõ nên mới hỏi như thế, không phải cố ý bóp méo hay sách động chi cả, v cũng không hề giúp ai vượt trại hết. Có lẽ họ chỉ nghe “angten” báo cáo thấy tôi đưa poncho cho Hạ, nên tra hỏi xem tôi có l đồng lõa muốn trốn trại với Hạ không, v cũng nhân dịp n y moi luôn việc tôi đã hỏi khó tên cán bộ chính ủy Trung đo n, để có thêm cớ đập tôi một trận nhừ tử. Sau ba ng y liên tục tra hỏi đánh đập, cuối cùng đánh chán cũng không hỏi được gì hơn, đ nh thả tôi về trại.

Hạ bị nhốt trong một “connect” ngo i bãi dất trống sau trại. Giờ trưa ở vùng cao nguyên nắng lửa mưa dầu n y, trời nóng như nung. Connect bằng sắt vuông vức m-i bề khoảng hai thước, dù có một anh em n o đó lén chặt đâu được hai t u lá dừa úp lên trên nóc, tôi nghĩ nhiệt độ bên trong chắc vẫn nóng khủng khiếp lắm, rất có thể l m người bị nhốt điên lên được.

M-i ng y hai lần, một anh em cải tạo do bộ đội có súng hộ tống đưa cơm cho Hạ v cũng chính với lon Guigo đựng cơm n y, Hạ phải dùng để đi đại tiện khi cần. Hai tháng sau, Hạ bị chuyển đi đâu không rõ, nhưng cho đến nay tôi không còn được tin gì của anh nữa.

K tum hết về.

Cuối năm đó tôi chuyển đi Katum. Đây l một trong những trại lao động khủng khiếp h ng đầu của tù cải tạo trong miền nam Việt Nam lúc đó. K tum thuộc Quận Bổ Túc tỉnh Tây Ninh, Trại nằm sâu trong khu rừng gìa, gần biên giới Việt Miên.

Đo n xe chở chúng tôi m-i lúc một sâu v o rừng. Khi xe ngừng, trời đã xế trưa. Có lẽ đây l một khu xóm cũ của người Thượng đã bỏ hoang vì chiến tranh. Nhìn quanh, tôi còn thấy dấu vết của mấy chòi tranh sót lại đã rách bươm.

Tuy sinh ra ở ngoại ô H Nội, nhưng khi mới lên năm đã theo gia đình chạy trốn Cộng Sản, di cư v o Nam năm 1954, vì thế có thể nói l tôi sinh trưởng tại S iGòn. Cuối năm thứ nhất Luật Khoa, thi rớt phải nhập ngũ. Tôi đã tình nguyện v o Hải Quân. Đời lính to n lênh đênh trên biển cả, nếu có thấy rừng chỉ l nhìn từ xa chứ đâu bao giờ biết đến rừng rú như thế n y. Xuống Molotova, xung quanh rừng dầy bạt ng n. Ch- chúng tôi đứng l một khoảng trống nhỏ, có hai chòi tranh đã rách nát lâu đời. Bên phải l một trảng trống lớn, cỏ tranh cao ngang thắt lưng. Bên trái l khu rừng chồi thưa, l- ch- mấy hố bom B52 từ bao giờ nay đã đầy nước. Tôi có cảm tuởng như mình đang bị đi đ y với án khổ sai biệt xứ. Chúng tôi căng bạt dưới gốc cây ở tạm tuần lễ đầu, sau đó mới đốn cây, đ o gốc dọn ch- đắp nền nh , chia nhau v o rừng chọn cây đốn l m cột, kèo, chặt le l m rui mè, cắt tranh đánh tấm lợp mái, dựng nh .

Dụng cụ dùng trong tiểu đo n to n bộ chỉ có 5 con dao, 3 cuốc, v 3 xẻng. Chúng tôi tìm được ngo i bìa rừng một ít cọc sắt h ng r o kẽm gai, đập dẹp biến chế thêm dao, xẻng, cuốc. Những cây to một hai người ôm, chúng tôi đốn xuống, đ o gốc, v dọn ch- l m nền nh , đều dùng các dụng cụ n y.

Ba tháng tới trạI, tôi có cảm tuởng đã như ba năm. Ban đêm dù mệt nho i vì phải l m việc quần quật suốt ng y, tôi vẫn thao thức khó ngủ. Tối n o cũng nằm trằn trọc nhớ mãi người vợ nhỏ yêu thương đang vất vả cô đơn, v nghe tiếng tắc kè trong bọng cây kêu từng hồi như tiếng thở d i não nề: “TTTTắắc… kèè… TTTắc...kkèè... Tắắc...kkèèèèèèè...“ Có v i bạn nói: Nghe c ng lâu c ng giống như “hhhhhếết… vvềề…. Hhhếết…vvềề…. Hết…vvềềềềềềềềề..“ Tít ngo i xa, vẳng tiếng vượn hú lanh lảnh, c ng l m tăng cái cảm giác cô quạnh cho phận tù nhân hơn nữa. Mãi đến thật khuya tôi mới có thể thiếp đi trong mệt nhọc.

Đồng hồ không người lái.

Tôi lãnh nhiệm vụ đi cắt tranh sáng nay. Chỉ tiêu đủ mười lăm tấm nộp trong ng y. Húp vội chén nước cháo, rồi xách gậy v liềm đi ngay v o rừng. Tôi biết, bên trái khu rừng chồi trước trại, rừng rất d y, nhiều gai Mây v Song, nhưng chỉ l một giải rừng hẹp, tuy rậm rạp khó đi, nhưng nếu chịu khó len lỏi qua được phía bên kia sẽ thấy một trảng tranh lớn, vẫn còn nhiều tranh d i có thể đánh tấm. Đến đó sẽ không phải đi tìm xa v không sợ thiếu thời gian. Tuy nhiên tôi vẫn muốn v o rừng sớm một chút, hôm qua khi chặt le về phát giác cây cám to đã có qủa chín nằm khuất trong cánh rừng le bên phải khu rừng chồi. Đêm qua gió khá lớn, nhất định sẽ có trái chín rụng đầy mặt cỏ, có trái rừng ăn no, còn có thể để dư cho buổi chiều. Tù cải tạo lúc n o bụng cũng đói meo, có dịp kiếm được ít trái cây rừng nhét bụng, khi n o tôi chịu bỏ qua. Toán lao động vừa ra khỏi trại, tôi tách rời anh em, rảo bước như chạy về phía khu rừng chồi. Băng ngang giải rừng song tới gần cây cám, từ xa đã ngửi mùi thơm ng o ngạt của trái chín. Dưới gốc cây có hai anh bạn ở trại khác cũng vừa chạy tới. Chúng tôi lục tìm trong cỏ nhặt những trái chín rớt xuống đêm qua. Tôi được khoảng mười trái, ăn ba còn lại bỏ cả v o túi v đi cắt tranh, tính chiều nay về trại sẽ chia cho Điển mấy trái. Điển l bạn học cùng trường trung học, tôi đã gặp hôm mới tới đây.

Khi ra lại khu rừng chồi để băng ngang qua bên kia, tôi thấy có một bộ đội tách rời toán tù chặt cây v lẽo đẽo theo sau tôi quẹo phải. Qua rừng chồi, xuyên ngang giải rừng rậm đầy gai góc hắn ta vẫn theo sau. Tới trảng tranh hắn ngồi trên một gốc cây đổ chăm chú nhìn tôi cắt tranh. Khi tôi ngưng lại uống nước xả hơi, hắn tới gần hỏi:

- Anh n y cắt tranh cũng khá chất lượng đấy nhỉ! Anh ở đội n o thế?

- Ch o anh, Tôi ở đội một.

- Anh cho tôi mượn xem cái đồng hồ anh đang đeo được không?

Tôi vốn đang lo không biết hắn muốn gì m vác súng theo tôi cả buổi, giờ hiểu ra mới biết hắn mê cái đồng hồ đeo tay. Tôi gật đầu v tháo đưa cho hắn coi. Hắn ta ngắm nghía một lúc v hỏi?

- Đồng hồ n y cũng khá đẹp đấy, mười ba nến, hai cửa sổ, nhưng m đồng hồ n y của anh có người lái không?

Tôi ngẫn người không biết hắn ta nói gì. Mười ba nến hai cửa sổ l sao?

- Tôi không biết thế n o l có, hay không có người lái? Nhưng đồng hồ n y của tôi chạy rất đúng giờ.

- Thế anh lúc xưa trong quân đội ngụy cấp bậc gì?

Nghe hỏi vậy, tôi lại c ng không hiểu tên n y muốn gì. Cấp bậc của tôi có liên quan gì đến việc n y? Tôi vẫn biết trong đầu óc bộ đội, tù cải tạo chúng tôi cấp bậc c ng cao tội c ng lớn. Nhưng tại sao khi không lại hỏi cấp bậc của tôi?

- Xưa tôi l Trung úy.

- Trung úy ngụy các anh sao m dốt thế! đồng hồ không người lái m cũng không biết. N y nhá! đồng hồ không người lái l mình không phải lái gì hết cả, cứ để mặc nó cũng vẫn chạy như thường đấy.

- Ồ, vậy đồng hồ của tôi không người lái.

- Anh có bán không? tôi mua cho anh giá cao.

- Tôi không bán.

Nghĩ nếu có tiền cũng chẳng x i gì được trong tù, nên dù hắn ta nói thế n o tôi cũng không chịu bán. Thích quá, hắn giữ lại ngắm nghía mãi mới chịu trả. Sau lần đó, tôi bỏ đồng hồ trong túi v không bao giờ đeo ở tay nữa, sợ sẽ gây nhiều chú ý.

Trăn của nhân dân.

Một sáng sớm, Điển v tôi đi rừng lấy cột nh . Tiêu chuẩn cột phải thẳng, phải tương đối đều, không thể gốc quá to ngọn quá nhỏ, vì sẽ rất khó đục mộng dặt kèo, đường kính từ hai mươi hai đến hai mươi lăm cm, d i bẩy mét v phải l g- tốt.

Các loại cây Dầu, Chai hay Bứa đều l những cây cao thẳng tắp, muốn tìm được cây thẳng d i trên bẩy thước thiệt không khó khăn chút n o, khi hạ xong chỉ cần róc một chút vỏ phía dưới gốc l m ch- nắm v kéo ngược lên trên, nguyên lớp vỏ sẽ lột ra th nh từng dây dễ d ng nhanh chóng, không như các loại cây khác, muốn lột vỏ, phải dùng một khúc g- đập v o thân cây, vỏ ở ch- bị đập sẽ dập nát ra, đập như thế trên to n bộ cây cột mới chặt cho hết vỏ, thường đập khoảng ¼ cây đã ê ẩm cả cánh tay. Chai, Bứa, cũng như Dầu, nhựa cây tuôn ra rất nhiều ngay lúc lột vỏ, khiến cho cây nhẹ hẳn đi, vác từ rừng về trại tuy cũng rất mệt nhưng không đến n-i đôi vai bị tê nhức tới ng y hôm sau như vác các loại cây nặng khác. Khổ một n-i, các loại cây đó đều không được nhận, vì g- của nó rất được mối ưa thích. Cây rừng tươi, g- tốt thường rất nặng, phải hai hay ba người mới vác nổi về trại.

Mãi gần trưa chúng tôi mới tìm được một cây trường vừa ý. Mở ng m cho cây đổ đúng hướng v hì hục thay nhau chặt. Cây ngả, tôi đo đủ bẩy thước v chặt ngọn. Khi đo tôi thấy có con trăn lớn, d i gần ba thước bị đè chặt dưới ngọn cây đang cố tìm cách thoát ra. Có lẽ lúc nó đang trên cây, cây ngả chạy không kip nên bị đè. Chúng tôi liền đập chết trăn v tiếp tục chặt ngọn, lóc vỏ cây, sau đó cuốn trăn v o cây v dùng dây rừng cột chặt, hớn hở cùng nhau về trại. Hai chúng tôi bảo nhau: sẽ có thịt cho nguyên tuần lễ sắp tới. Về dến ngang chòi canh cổng trại, Người bộ đội gác cổng chỉa súng chặn chúng tôi lại v sừng sộ:

- Hai anh kia đứng lại ngay cho tôi coi n o, sao hai anh dám bắt trăn của nhân dân?

- Con trăn n y trong rừng. Lúc chúng tôi chặt cây thấy nó kẹt chết dưới cây đổ nên lấy về, chúng tôi đâu có bắt trăn của dân đâu.

- Anh còn ngoan cố hả! trăn trong rừng l của nhân dân đó biết không?

- Anh nói thế tôi thấy không đúng! Trong khu rừng n y đâu có nh dân, m dân đâu có ai nuôi trăn bao giờ.

- Rừng l t i sản của dân, vậy trăn trong rừng cũng l của nhân dân chứ còn gì nữa. Bọn tù các anh quen thói bóc lột của nhân dân vẫn không chừa. Mau đưa con trăn cho tôi ngay.

- Nếu vậy chúng tôi đem thả nó ở ch- đã bắt được.

- Bộ đội chính l từ nhân dân m ra. Các anh đã học tập chính trị bao nhiêu lâu nay còn chưa thông suốt sao. Cứ để con trăn xuống đó, tôi đem nó lên báo cáo cho cấp trên biết không?

Điển v tôi đ nh hậm hực tháo trăn bỏ xuống đất. Dù uất ức cũng phải chịu. L m sao cãi được với những lý lẽ ch y cối như thế, lại thêm họng AK đen ngòm nữa. Đã tưởng sẽ có một ít thịt, nhưng miếng thịt đã như đến miệng vẫn còn bị họng súng móc ra mất.

Tự túc lương thực.

Chúng tôi phá rừng l m rẫy, trồng khoai mì, khoai lang theo kế hoạch tự túc lương thực. Câu nói “quê hương ta đất đai mầu mỡ” quả nhiên rất đúng cho lúc n y. Những gốc mì lên nhanh như thổi, chẳng bao lâu các dải đồi đã biến th nh cánh rừng mì xanh ngát cao gấp hai người dứng, v chúng tôi đã có thêm công tác nhổ khoai mì. Nghe thật nhẹ nh ng, nhưng khi vác bao khoai len lỏi trong rừng mì ra ch- cân nộp cho đội thật không dễ d ng như tôi tuởng. Đất tốt, m-i gốc mì ít nhất cũng có trên bốn năm củ đâm ngang. Gò lưng nắm gốc mì kéo lên phải vận dụng to n bộ sức lực mới keo nổi, m sức thì đã mỏi mòn từ mấy năm nay. Nhất l khi trời vừa tạnh mưa, tay còn dính đất khi bẻ các củ khoai bỏ v o bao, gốc cây mì trở nên trơn tuột như lươn, nắm nhổ được lên c ng phải tốn sức nhiều hơn nữa.

Áp dụng đúng chủ thuyết xã hội chủ nghĩa, mọi t i sản đều l của chung, các đội nộp to n bộ số khoai thu hoạch cho tiểu đo n, v tiểu đo n sẽ phân phối đồng đều trở lại theo tiêu chuẩn l m nhiều ăn nhiều, l m ít ăn ít. Sau m-i lần thu hoạch, tiểu đo n cho chúng tôi một tuần khoai mì điểm tâm thay cho nước cháo. Cán bộ nói đó l lòng ưu ái của đảng đối với anh em cải tạo. H ng bao nhiêu tấn khoai không cánh đã bay mất nhanh hơn cả ảo thuật.

Ngay từ ng y đầu cải tạo, bữa ăn luôn luôn thiếu lại không có chất dinh dưỡng, sức lực anh em c ng ng y c ng lụn bại. Bụng đói triền miên đó l chuyện thường, khi bị thương các vết thương phải mất thời gian lâu gấp đôi gấp ba mới có thể l nh. Cóc, nhái, thằn lằn, chuột, bọ, rắn rết, hay bất cứ con vật gì có thể cung cấp chất thịt cải tạo viên đều không chừa. Đã có nhiều anh em chết vì ngộ độc cóc tía, nấm độc v.v...

Sau Khi việc dựng nh ở, hội truờng cho trại tạm xong, chúng tôi đắp lò rèn, đúc dụng cụ mộc. Cưa, đục, b o, đủ loại. Từ đó, chuyển sang đóng đồ dùng trong nh . Lúc đầu b n ghế còn thô sơ bằng g- tròn, dùng trong hội trường v nh ở, dần dần chúng tôi phải v o sâu trong rừng tìm hạ các loại g- quí, như gõ, cẩm lai, Trắc v.v… Nghề dậy nghề, kỹ thuật đóng đồ g- của anh em cải tạo c ng ng y c ng cao. Mặc dù to n bộ dụng cụ dùng đều do tự chế, chúng tôi vẫn xẻ ván từ những cây to hai ba người ôm, đóng th nh những bộ sa-long, b n ghế, tủ dựng quần áo, hay những chiếc giường thật đẹp, không thua gì những đồ b y bán trong các tiệm đồ g- nổi tiếng dọc đường Hồng Thập Tự ở S igòn trước năm 1975. Đồ sản xuất rất nhiều, cán bộ lấy đem về nh riêng, hoặc đem bán kiếm tiền. Tiểu đo n n o sản xuất được nhiều cán bộ tiểu đo n đó giầu, lâu ng y trở th nh một phong tr o ganh đua giữa các cán bộ. Thi nhau bắt cải tạo đóng đồ g- đem bán.

Lần đầu tiên chúng tôi được viết thư cho gia đình cũng từ trại K Tum. Trước khi viết thơ, cả tiểu đoòn phải học tập về điều lệ v nội dung bức thơ được chấp thuận cho gởi. Những thơ không hội đủ tinh thần sẽ bị giữ lại.

1- Nội dung không được than thở, trái lại phải động viên tinh thần thân nhân, khuyên họ luôn nghiêm chỉnh chấp h nh luật pháp chính quyền địa Phương

2- Cổ võ tinh thần người thân khuyên họ phải tin tưởng v o chính sách cải tạo của đảng Cộng Sản Việt Nam.

3- Cho thân nhân biết, cai tạo viên được đối đãi tử tế, được cấp phát quần áo v lương thực rất đầy đủ.

Thăm nuôi.

Ba tháng trước, Chúng tôi được lệnh dựng một khu nh tranh ngo i bìa rừng cách trại khoảng năm cây số. hai dẫy d i nối đuôi nhau th nh hình chữ L, nằm lọt ở giữa l một căn nh nhỏ, ba vách, vách trước để trống quay về hướng hai dẫy nh d i, tất cả nằm trong một vòng r o kín, nay được biết đó l khu thăm nuôi. Căn nh nhỏ nằm gần cửa h ng r o, l m ch- cho thân nhân khi đến trại v o đăng ký. Lúc dựng căn n y, tôi đã thấy hơi lạ, cán bộ muốn chúng tôi để trống bức vách nhìn ra hai dẫy nh d i. Đến ng y có người nh lên thăm tôi mới hiểu. Từ căn nh nhỏ có thể dễ d ng kiểm soát mọi động tĩnh bên hai dẫy nh ngang.

Đa số khi viết thơ về gia đình, ai cũng xin đồ ăn. Không ngoại lệ, tôi cũng xin nh một lọ mắm ruốc, nghĩ thứ đó rẻ v có thể để được lâu không hư, một chai nước mắm, thuốc ngừa sốt rét, v một chút mật gấu nếu có. Được báo có người nh tới thăm, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì sắp được gặp mặt người thân, lo vì không biết vợ con tôi có đi được không? Từ bao lâu nay tôi luôn mong ước được thấy lại người vợ m tôi ng y đêm nhung nhớ. Chuyến thăm đầu, có ba tôi v đứa em trai. Nhưng tôi vui mừng hơn cả có lẽ vì có vợ tới, n ng còn bồng cả con gái đầu lòng của chúng tôi theo nữa.

Gia đình tôi quây quần cả bên cái b n trong một gian của dẫy nh ngang. Trong góc gian phòng, có bộ đội đeo AK ngồi canh nên chúng tôi đặc biệt cẩn thận từng lời nói. suốt hai tiếng đồng hồ tôi không rời vợ v đứa con gái vừa được hơn ba tháng. N ng cứ nhìn tôi m khóc chẳng nói được gì. Ba tôi đã gìa nhiều, ng y tôi đi ông còn rất trẻ trung . nay mới năm mươi m tóc bạc trắng như đã trên lục tuần. Ông cứ thắc mắc mãi, vì sao tôi xin mật gấu. Cuối cùng tôi hạ nhỏ giọng cho ông biết tôi bị tra tấn cần mật gấu để trị nội thương . Vợ tôi nghe được, nước mắt c ng d n dụa. Hai tiếng thăm nuôi sao ngắn qua, giống như chỉ hai phút. Lúc chia tay tôi không ngăn được cảm xúc. Ba tôi cũng bùi ngùi dặn tôi nên bảo trọng. Vợ tôi bịn rịn chẳng muốn rời. Đường từ khu thăm nuôi về trại sao d i thăm thẳm. Các bạn khác vì xin quá nhiều đồ ăn phải gồng gánh nặng nề, có người phải đi dây chuyền hai gánh nên đi thật chậm. Tôi chỉ có một bao nhỏ xách tay cũng được nên không khó nhọc lắm trên đường về.

Tôi ở Katum ba năm, được thăm nuôi hai lần , m-i lần ba tiếng . Lần thứ nhì vợ tôi đi cùng mẹ v đứa em gái lên trại.

Canh da trâu.

Sang nay tiểu đo n họp sớm, chúng tôi không những không phải đi rừng, còn được phát m-i người một bộ đồ kaki mới. Tiểu đo n ra lệnh:

1- Hôm nay không phải lao động, nhưng mọi người không đuợc mặc đồ cũ, rách rưới. Trong vòng 2 ng y, bất cứ lúc n o, sẽ có phái đo n quốc tế gồm đại diện các nước Nga, Anh, Pháp, Hòa lan, Bungary tới thăm trại.

2- Trong trại phải hoạt động bình thường, v vui vẻ cười nói, không được nhăn nhó chán nản.

3- Cấm tuyệt đối không được tự ý tiếp xúc trò chuyện hay nêu câu hỏi với phái đo n. Cán bộ đã chỉ định người v chuẩn bị sẵn các câu hỏi cho mấy người n y.

4- Đặc biệt nếu ai dùng tiếng nước ngo i như Anh, Pháp v.v… nêu câu hỏi hay nói gì với phái đo n sẽ bị trừng phạt nặng nề.

5- Người đã được chọn sẵn, phải nêu đúng những câu hỏi cán bộ soạn trước, không được sửa đổi lệch lạc .

Sau khi họp, về trại nghỉ nguyên ng y. Thật bất ngờ, các anh em trong tổ anh nuôi được lệnh đi lãnh đồ ăn. M-i đội ba ký lô da trâu v một rổ rau muống. Đã mấy năm không có thịt cá chi hết, nay b-ng có canh rau muống nấu da trâu, cộng thêm một bộ đồ kaki mới, còn được nghỉ xả hơi khỏi lao động. Đúng l đảng có lòng ưu ái cải tạo. Nhưng suốt hôm đó chẳng có ma n o tới. Gần trưa hôm sau mới thấy phái đo n gồm ba nguời ngoại quốc được cán bộ đón đi xem hội trường. Họ đứng nói chuyện trên hội truờng một lúc, sau đó đi thăm nh cán bộ rồi ra về. Không thắc mắc, không thăm viếng, không có câu hỏi cũng chẳng có trả lời.

Sau buổi đóng kịch hụt, ngo i việc lao động từ sáu giờ sáng đến sáu giờ tối, K tum không còn gì đáng nhớ. Tôi ở trại n y khoảng trên ba năm, cuối năm thứ ba có mười mấy anh em được thả, số còn lại chuyển về Th nh Ông Năm Hóc Môn. Tôi về Hóc Môn c ng buồn hơn, một số bạn được đi phép năm ng y thăm nh , tôi không có may mắn đó. Trại gần th nh phố nên được canh giữ rất kỹ luỡng, không có lao động xa, chỉ l m việc trồng trọt dọn dẹp lặt vặt trong vòng r o trại. Tôi giết thời gian ở đây bằng cách học guitar với Linh, một anh bạn mới quen. Một buổi tối tôi buồn v nhớ vợ, ra sau dẫy nh ngủ, ngồi một mình dưới gốc cây hát cho vơi sầu. B i “chiều h nh quân”, Linh nghe được dem cay dan da chiến ra dệm cho toi. Từ đó chúng tôi thường quây quần lén hát nhạc v ng cho nhau nghe. Tạ Kỳ Linh, l con trai lớn của nh văn Tạ Tỵ, chúng tôi đổi ngược tên thật của anh lại th nh “Tinh Kỳ lạ” cho hợp với cái t i chơi đ n xuất chúng, dù chỉ với cây đ n do chúng tôi tự dùng ván thông v gò nhôm l m th nh. Ngo i ra tôi còn cắt nhôm l m kẹp tóc, lược, lắc đeo tay v khắc hình hay chữ trên đó. Khoảng mấy tháng ở đây vì ít phải lao động cực nhọc sức khoẻ tôi đã phần n o hồi phục.

Hơn ba năm từ ng y Cộng Sản chiếm S igòn, th nh phố tráng lệ của miền Viễn Đông. Chúng tôi, những người con hiên ngang gánh vác trách nhiệm bảo vệ tự do cho miền Nam đã không dứt áo ra đi, đã không nỡ xa rời quê mẹ. Dù sao cũng vẫn cùng một giống nòi Hồng Lạc. Đất nước hợp nhất, không còn chiến tranh. Chiến tranh dứt thù hận cũng tiêu tan. Ở lại dù có khổ sở thế n o cũng vẫn l người dân nước Việt sống trên quê hương Việt Nam. Không lẽ Việt Cộng nay đã lấy được trọn cả nước lại đi giết tập thể h ng trăm ng n người dân chúng tôi sao? Vì ý nghĩ đó, chúng tôi đã tự nguyện ở lại đem thân v o chốn lao tù, l m việc khổ sai đ y đọa, cách biệt hẳn với xã hội bên ngo i. Nhưng hỡi ôi! Việt cộng dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam không giết chúng tôi tập thể. Chúng chưa muốn người dân Việt Nam kinh hãi, v nhìn rõ bộ mặt thật của Cộng Sản. Đảng đã thâm hiểm hơn gấp trăm gấp ng n lần, đã đánh lừa gom những người con ưu tú của miền Nam v o các trại tù khổng lồ, v che mắt mọi người bằng mỹ danh trại “Cải Tạo”. Xã hội sẽ không còn người chống đối phản kháng những việc l m bán nước hại dân của chúng. Trong trại tù chúng không những h nh hạ bắt l m việc nặng nhọc ngo i sức chịu đựng của con người, còn cướp hết những lương thực sản phẩm do tù nhân l m ra để họ ng y một đói, không chết vì rừng thiêng nước độc, bệnh hoạn không thuốc men, cũng chết dần vì thiếu đói, vì kiệt quệ, hao mòn trong lao động khổ sai, triền miên. không còn lầm lẫn n o lớn hơn lầm lẫn n y. Cái ý nghĩ cùng một giống nòi Hồng Lạc mới mỉa mai l m sao!!! Cuối năm thứ tư tôi bị chuyển đi Phước Long.

Phước Long.

Phước Long l vùng cao nguyên, Trại cải tạo nằm sâu trong rừng, về sáng sương mù v khí lạnh rất lâu tan. Những khu rừng lồ ô thường nằm dưới thung lũng, thấp v thiếu ánh sáng nên ẩm ướt c ng thêm ẩm ướt, lá lồ ô rụng th nh một lớp dầy, lâu ng y mục nát rất thích hợp cho vắt sinh sống. Tôi ghét cay ghét đắng công tác lấy lồ ô, không phải vì nặng nhọc, chỉ vác hai cây d i đã nặng quằn vai, trong trại tù, có công tác n o m không nặng nhọc? cũng không phải vì rừng lồ-ô ở khá xa trại, chặt dủ bốn cây vác về đã mất hơn hẳn nửa ng y còn mệt bở hơi tai, nghỉ nguyên buổi chiều cũng không lại sức. Tôi ghét đi lấy lồ ô vì rừng lồ ô đầy vắt. Bất cứ ngừa cách n o, bó chặt tay áo, cột kín ống quần v.v.. đều không thể tránh bị vắt cắn. M-i lần đi lấy lồ ô ít nhất cũng bị năm ba con hút no máu to phồng, đó l chưa kể h ng chục con khác mới vừa bắt đầu hút máu đã bị phát giác v bị giết ngay tại ch-, thật khốn khổ hơn nữa nếu không may ta bị một con chui v o tai hay hậu môn.

Có lần chặt xong hai cây, róc sơ c nh lá cho khỏi vướng, tôi gò lưng, è cẳng kéo ra ngo i trống ch- có ánh sáng mặt trời, vì biết vắt rất kỵ ánh nắng, cảm thấy trên mu b n chân vừa ngứa vừa đau vội cởi giầy ra xem, vừa lột được chiếc vớ tôi đã rùng mình, tóc gáy dựng dứng. Một cảm giac ớn lạnh thật khó tả, suốt đời tôi không bao giờ quên, chạy doc xương sống l m trán toát mồ hôi. Thấy trên b n chân chín, mười con vắt bu kín đang đua nhau hút máu, con n o cũng đã căng tròn. Tôi vội v ng dùng luỡi dao gạt hết xuống, bằm nát, rồi lấp đất lên để khỏi phải nhìn máu của chính mình loang đầy mặt đất.

Một lần khác, nộp lồ ô xong trời đã chiều, ra giếng tắm, cởi áo mới thấy con vắt to căng tròn máu rớt từ sau lưng xuống, vì quá no không còn hút thêm được đã căng tròn như một viên bi nên tự động rớt ra.

Chúng tôi đã gầy gò vì thiếu ăn lâu ng y, bị mất máu như thế, với tôi l một cực hình ghê sợ nhất. Cái tệ hại bị vắt cắn không những chỉ mất số lượng máu đã bị hút, ch- vắt cắn thường rất lâu l nh, máu vẫn tiếp tục chảy dù con vắt đã bị chúng ta lấy ra. Trên miệng vắt tiết ra chất chống đông máu. Khi vắt đã nhả, trung bình phải mất ít nhất từ hơn nửa tiếng đến một tiếng máu mới có thể ngừng chảy.

Từ khi đến Phước Long, Tinh Kỳ Lạ v tôi ở khác đội, ít có dip gặp nhau. Việc học đ n với anh phải tạm gác lại. Các bạn cùng đội biết tôi từng mê chuyện kiếm hiệp Kim Dung, m-i tối đều tìm cách mời tôi kể lại, họ nấu chè hoặc bất cứ món ăn gì có thể tìm được, đặc biệt để d nh cho “thầy kể chuyện”. Tối nay buổi kể chuyện cũng tạm ngưng vì tập họp điểm danh bất thường. Hồi sáng đi cuốc cỏ ruộng mì tôi có gặp Linh, tôi chỉ ch o hỏi qua loa v nhận ra Linh có vẻ vội vã. Không rõ như thế n o, nhưng Linh đã âm thầm sắp xếp với vợ qua mấy lần nuôi, v hôm nay chị Linh chạy xe Honda v o tận khu rừng thưa mang quần áo civil cho anh thay, hai người giả trang dân trong vùng cùng nhau trốn thoát về S iGòn. Sau n y tôi có đến khu chung cư Minh Mạng thăm nhưng không gặp linh, lúc đó đã đi C Mâu dò đường vượt biên, gặp chị Linh, tôi có gởi lời hỏi thăm anh. Nghe đâu anh cũng vượt biên an to n v nay đang định cư tại Mỹ.


Xuyên Mộc, trại cuối cùng.

Chuyển về Xuyên Mộc chúng tôi ai cũng mặt m y ủ dột. Đây l trại tù do Công an coi. Ng y đầu v o trại một cán bộ khi tập họp chúng tôi đã tuyên bố rõ r ng: Các anh ngụy quân ngụy quyền chuyển về trại n y đều thuộc th nh phần còn ngoan cố, học tập lâu vẫn không có kết quả tốt. Đã qua nhiều lần thanh lọc còn lọt lại. Những ai học tập tốt đều đã được cho về đo n tụ với gia đình. Còn các anh có thể phải ở đây mãi mãi.

Ở Xuyên Mộc khoảng năm tháng, người Thiếu úy cán bộ đại đội gọi tôi lên để nói chuyện rieng. Trong lòng hồi hộp không biết mình đã ăn nói sơ hở gì để ang-ten báo cáo. Kinh nghiệm mấy lần, khi bị gọi lên gặp riêng với cán bộ lần n o tôi cũng mang cái thân ốm đòn trở về. Cũng may lần n y anh ch ng cán bộ đại đội trưởng n y cho tôi biết anh ta nghe một người bạn tù giới thiệu, tôi khéo tay, biết vẽ v xủi đồ nhôm. Anh ta muốn nhờ tôi xủi hình một cô gái v đóa hoa hồng v o mặt hộp quẹt máy cho anh. Tôi nhận lời ngay vì đây l dịp may khỏi bị đ o đất khiêng cây hoặc l m những việc nặng nhọc khác. Hết quẹt máy n y anh ta đưa quẹt máy khác, hết quẹt đến vòng, lắc, kẹp tóc v.v… Một thời gian mấy tháng tôi luôn được ngồi trong gốc cây mát l m đồ riêng cho anh ta. Một hôm đang cùng các bạn đ o gốc cây anh ta lại đến gọi tôi ra nói chuyện riêng. Lần n y vừa mở lời đã chặn đầu: Anh phải l m tốt một việc sau đây, tháng sau anh sẽ được đề nghị cho về, v nhớ phải giữ kín chuyện tôi nói với anh hôm nay, nếu không anh sẽ bị giữ lại học tập thêm. Tôi rất ngạc nhiên, hôm mới v o trại có một cán bộ đã nói tụi tôi có thể sẽ phải học tập suốt đời ở đây. Anh ta tiếp: Trong vòng một tuần anh phải viết cho tôi b i báo cáo về tất cả những hanh dộng va tu tuởng sai trai phản dộng của mọi nguời trong đội. Nếu bản báo cáo tốt anh sẽ được về. Tuyệt đối không được dấu diếm che đậy chuyện gì cả .

Đêm đó tôi trằn trọc mãi. Thi ra hắn muốn mình l m ang-ten. Thiệt l khôi h i, muốn tôi l m ăng-ten bán rẻ anh em, đừng hòng tôi l m chuyện đó! Nhưng nếu lỡ hắn ta nói thật thì sao đây? nghĩa l nếu tôi không viết báo cáo hắn có thể giữ tôi lại không? Không thể bỏ uổng dịp may hiếm có cũng không thể l m hại anh em. Vợ con tôi ở ngo i đang trông đợi tôi về, còn có gia đình tôi nữa. Thật l một đòn thâm độc. Suy nghĩ mãi tôi đã quyết định chờ tới ng y chót mới viết báo cáo. Trong báo cáo tôi viết: Tôi nhận thấy các bạn trong đội người n o cũng cố gắng hết sức lao động, học tập, chăm chỉ. Người n o cũng nôn nóng mong học tập mau về. Họ cố gắng nhiều quá nên mệt nhọc, công việc có hơi chậm lại. Ban đêm họ đều mệt, ngủ say không b n tán xì x o gì được cả .

Một tuần sau, buổi sáng sớm khi tiểu đo n tập họp đi lao động, 12 người được giữ lại trại cho lãnh giấy ra về trong đó có tôi. Về đến nh gặp cha mẹ vợ con mấy tháng sau có người dắt mối nhờ lái ghe vượt biên. Tôi không ngần ngại nhận lời ngay. Cuối năm 1980 may mắn đã đưa được gia đình thoát nạn tới Indonesia v đi định cư năm 1981 . Một thời kinh ho ng tủi nhục của đời người đã qua, nay nhớ lại tôi vẫn còn kinh tởm cộng sản vô cùng.

Nguyên Tập