|
TƯỜNG CÀNG CAO, CHÍ CÀNG CAO (tưởng nhớ
những người còn nằm lại Ba Sao) Từ hai trại Cốc số 1 v số
2 ở Ho ng Liên Sơn, chúng tôi được chở bằng xe tải xuống núi. Có người quá mệt mỏi sau ba năm lội rừng
(1976-1979) nên có ý nghĩ viễn vong l sẽ được tha. Phần đông thì nghe vậy chỉ cười thầm, đúng thì tốt, nhưng chắc l
sẽ khó được về cùng gia đình. Ở Ho ng
Liên Sơn, Bộ Đội quản lý. Ăn ở giữa Bộ
Đội v tù chỉ khác nhau một lạng lương thực.
Tuy m-i ng y đều lao động thật vất vả, nhưng công tác tẩy não cũng có
mức độ, không quá ác ôn khắc nghiệt.
Theo sự trình b y của trại thì chúng tôi sẽ được công an quản lý v họ
sẽ có “cao kiến” hơn. Có nghĩa l , công
an sẽ l giới chuyên nghiệp h nh hạ tù nhân theo diện cải tạo tập trung. Lên xe không ai tiễn, chia l m hai đo n, m-i
đo n phụ trách một trại. Chúng tôi
thuộc trại 2 trong Cốc, lại thuộc một nhóm 10 người trong một chuyến xe tải,
thay vì đi về H Tây như các người cùng trại, lại theo đo n xe đi về Nam H ,
sau khi ghé qua H Nội để ngấm cảnh thị th nh miền Bắc “xã hội chủ nghĩa”. Những người sanh quán H Nội nhận ra đây l
Bungalow từ thời Pháp thuộc, nay đã tróc cả sơn. Dường như chẳng có gì thay đổi từ sau 1954. Cái thay đổi duy nhất l cũ kỹ, thiếu bảo
quản. Đường phố thì tấp nập con người,
to n những người ăn mặc thô sơ, vải áo bạc m u, chân đi dép râu. Chỉ có cái mồm thì lúc n o cũng ba hoa, y
như một đ i phát thanh nhỏ lưu động.
“Ấy cái thứ ăn gan uống máu đồng b o..., tù mọt gong l đáng đời”. Đi ngang cầu De Lattre, nay đã đổi tên, đang
trong vòng sửa chữa lại những nhịp đã gẫy.
Đó l di tích chiến tranh duy nhất chúng tôi nhận thấy tại miền Bắc ở
thời điểm đó. Ở Ho ng Liên Sơn, cạnh
phi trường Yên Bái, chúng tôi đi rừng có tìm thấy v i ch- có rải mạc kim khí để
nhiễu điện tử, ngo i ra, chẳng thấy có thiệt hại n o khác. Có nghĩa l chiến tranh m Hoa Kỳ d nh cho
miền Bắc đã không gây thiệt hại đến thủ đô H Nội. Chỉ có một lần, vì Tướng Lavelle nổi khùng nên mang bom trải thảm
gần phi trường Bạch Mai, ven đô H Nội, v ông đã bị cách chức để ra tòa án
quân sự. Dọc đường đi Nam H , chúng tôi
mục kích được những trạm xăng m họ giữ bên lề, trong các ụ đất lớn kiên
cố. Các trạm xăng đó được ngụy trang
đơn sơ, vì đâu còn chiến tranh. Xuống
đến Phủ Lý, chúng tôi rẽ v o con đường đất nện bụi mù, con đường n y có xe
đò liên lạc thẳng đến thắng cảnh Chùa
Hương. Chùa Hương chỉ cách trại Nam H
có 5 cây số theo đường chim bay. Nhưng
đến Ba Sao l ngã rẽ, chúng tôi rời đường đi Chùa Hương để v o khu vực trại Nam
H . Nam H gồm có nhiều trại
khác nhau: Trại chính m chúng tôi ở
l trại A. Trại n y mới xây sau 1975,
chuẩn bị tiếp đón những quân dân cán chính của chế độ Saigon cũ như chúng
tôi. V người xây dựng trại chính l
những người tù cải tạo. Trại có tất cả
9 dãy, m-i dãy có hai buồng, m-i buồng chứa từ
50 tới 100 người v o lúc cao điểm.
Một trại khác l trại B ở
trong chân núi, giữa hai vách núi dựng đứng (h nh kim). Trại B đã nhốt tù binh Mỹ vi ngại bị trực
thăng vận cướp tù, nên cất sát chân núi, có súng phòng không bố trí xung quanh,
có song sắt chắc chắn cho mọi cửa sổ.
Không như trại A, trại B chỉ được tấm giặt bên ngo i, m-i tuần hai lần,
v từ buồng giam nhìn ra chỉ thấy vách núi.
Từ xa xưa, vùng n y trồng c phê, thuộc đồn điền người Pháp tên Le Comte. Sau đó đã cất lên một trại tù nổi tiếng hắc ám l trại Đầm Đùn,
vì chung quanh trại, chúng tôi đã từng mục kích trâu đi lạc bị lún sình m
chết. Sau n y vườn c phê được đổi lại
th nh vườn mơ hay vườn cam. Trại thứ ba l trại C ở
ngay ngo i xã Ba Sao, ở đây chỉ nhốt hình sự không nguy hiểm. Một trại khác nữa rất nhỏ
cất gần trại A, d nh cho những tù hình sự lâu năm (sau 8 năm). Số tù n y được trại tin cậy, v được lao
động tự giác, nghĩa l đi đứng ngo i trại tự do, v cứ lao động theo chỉ thị
của trại, không cần có cán bộ vũ trang theo kềm. Chính những tù n y giúp chúng ta các dịch vụ mua sấm, thơ chui,
mướn nh cho tù thăm nuôi phụ trội,... Còn một trại khác nữa cũng
thuộc phạm vi quản lý của liên trại Nam H l trại Mễ ở gần Phủ Lý, d nh cho
những ai bị cách ly khỏi các trại kể trên vì lý do kỷ luật, hoặc ra đó để gần
bệnh viện Phủ Lý m chữa bệnh. Vì sự qui mô của trại, nên
cán bộ đông đảo, cấp chỉ huy trại có đặc quyền đặc lợi cao. Nơi ở v l m việc của viên chỉ huy trại cất
trên dốc đồi cao trong khu vực của trại A, nhìn xuống khu trại, giống như một
dinh thự sang trọng. Có lính gác thường
xuyên, có đầy đủ người phục dịch (đầy tớ), có nuôi chó riêng. Bên cạnh dinh của viên chỉ huy gồm có trại
sĩ quan, v tiếp theo đó l các xưởng rèn, mộc, nh kho dụng cụ lao động, nh
kho chứa máy móc, v vật liệu xây cất.
Phía dưới đồi, bên kia đường l khu doanh trại của cai tù cấp hạ sĩ quan
v binh sĩ, v các phòng sở của ban chỉ huy trại. Chúng tôi chỉ ở trại A nên chỉ nhớ chút ít về trại A n y. Còn các trại khác, chưa hân hạnh được biết,
m chỉ thấy qua từ bên ngo i. Như trên đã nêu, trại A
của Trại Nam H có tất cả 9 dãy để nhốt tù, l m to n bằng bê-tong cốt sắt thật
kiên cố. Đó l tiêu biểu của một nước
“xã hội chủ chủ nghĩa”, chỉ có nh tù mới được lợp ngói, còn nhìn quanh, nh
dân thì ọp ẹp thô sơ vì ai cũng nghèo, “cái nghèo được phân chia rất đồng
đều”. M-i dãy được chia l m hai buồng
dính liền nhau về kiến trúc, nhưng không có gì chung chạ nhau ngo i cái giếng
nước lộ thiên, nếu có. M-i dãy đều có
tường cao cách ly với dãy khác, bên ngo i có cửa sắt mở ra sân lớn. Trên sân n y, m-i buổi sáng, tù được tập
trung trước khi đi lao động, hay bất cứ có một sinh hoạt qui mô n o của
trại. Cuối sân lớn còn có một cái giếng
nước to, bề kính khoảng 10 thước, để mọi người tấm giặt sau khi lao động. Đầu đ ng kia của sân, có một nơi d nh cho tù
đọc báo của đảng, v sách báo linh tinh m đảng cho phép đọc, còn được gọi l
“nh văn hóa”. Các buồng được đánh số
từ ngo i cổng chính v o, ta thấy bên trái có buồng 1 v 2 của dãy đầu tiên, rồi
đến 3 v 4 của dãy nhì, v 5 v 6 của dãy ba, kế đó l nh bếp, sau nh bếp l
buồng 17 v 18 của dãy sau cùng. Bên
phải có các buồng 7 v 8 ở dãy đầu, 9 v 10 ở dãy nhì, 11 v 12 ở dãy ba, 13 v
14 ở dãy bốn, 15 v 16 ở dãy năm, v sau đó l trạm xá, nơi chữa bệnh tạm thời
cho tù trước khi chết hoặc chuyển ra Mễ để v o nh thương Phủ Lý trị bệnh
nặng. Chung quanh trại có một lớp
tường cao xây bằng đá. Chỉ có một lối
ra v o l cửa chính xây mặt về hướng Đông, đối diện với Ban Trực Trại, nơi đó
có treo một quả bom lớn để l m kẻng, v một chòi canh có tháp cao nhìn v o sân
trại. Nơi các góc tường cũng có chòi
canh nhìn về hai cạnh của tường. Trên
tường còn một tầng kẽm gai cao độ một thước nữa, nâng bề cao của tường lên gần
4 thước. Có người viết “tường c ng cao,
chí c ng cao” để nói lên ý chí cầu sống còn của tù để tiếp tục đấu tranh. Khi chúng tôi vừa xuống
núi từ Ho ng Liên Sơn, to n l quan đại thần của chế độ cũ, chúng tôi được nhốt
một tuần lễ trong buồng 15 v 16, không được ra ngo i khỏi khu vực sân của
buồng. M-i buồng chứa khoảng 75 người.
Ng y đầu tiên nhập trại, chúng tôi được ăn một bữa ăn đầy đủ thịt th rau
quả. Trại đón tiếp rất hậu hỷ. Nhưng sau đó thì ăn cầm hơi với tiêu chuẩn 4
lạng một ng y. Nằm trong buồng nhìn
cảnh xảy ra ngo i sân, không lao động cũng đỡ. Sân của buồng còn đá lỡm chởm, nên hằng ng y có một toán hình sự
đến san bằng, bằng cách đục l- v o đá, cho thuốc nổ v o v l m nổ tung các
phiến đá đi. Người của họ như bộ xương
biết cử động. Một người cầm đục, xoay
quanh sau một cú đập xuống của một búa nặng khoảng 5 kg. Một lúc họ ngưng đập, người cầm đục lại lấy
một móc giống như móc tai để khều lên các mảnh vụn của đá kẹt dưới l-. Xong họ lại tiếp tục đậïp, v tiếp tục xoay. Tiếng đập chát chúa như thợ rèn đánh trên
đe, người họ nhuễ nhại, mồ hôi rơi lã chã trên mặt của tấm xương gầy. Đó l tương lai của chúng tôi. Chẳng bao lâu sau, chắc ai cũng trở th nh
như họ. Buồn cười l trên cánh tay của
họ có xâm những hình thù m ít ai ngờ, n o “nữ thần tự do” m ta thấy ở New
York, n o “Freedom” bằng tiếng Anh hẳn hoi, n o l hình Đức Thích Ca,.... Không lẽ họ l chiến sĩ tự do trên đất
Bắc? Không! họ l những du đãng trong
xã hội “xã hội chủ nghĩa”. Họ cho họ l
anh hùng, anh hùng phải l người đã v o tù ra khám mới trở th nh “anh chị”, m
muốn v o tù không chỉ ăn cấp vặt m phải tỏ ra “cực kỳ phản động”, nghĩa l
giám chống đối chính quyền. Vì thế, họ
tự xâm mình, nghĩa l giám l m chuyện lớn, v xâm những thứ m đảng cho l cực
kỳ phản động. Nói chuyện với họ mới
biết họ chẳng có một ý thức chính trị n o, nhưng vì đảng th nhốt lầm hơn tha
lầm, nên họ đã có được những ng y vinh quang trong trại Nam H , một trại nổi
tiếng nhốt to n tù chính trị cao cấp.
Chúng tôi lấy l m lo lắng, v ai cũng chắc rằng về đây không phải để l m
thủ tục ra tù. Nhưng các tù hình sự đó c ng hãnh diện được tiếp xúc với chúng
tôi, v họ cũng v- ngực trước mặt chúng tôi, họ đã giám chống đối ngay trên đất
Bắc. Những ng y còn bị nhốt trong buồng
ngo i giờ lấy nước uống, lấy thức ăn,
cái m chúng tôi phải l m lấy l đi đ- nh cầu. Thật l chưa quen. Các
đội đề cử các toán trong đội mình luân phiên l m công tác khó khăn n y. Cầu tiêu trong buồng có ba học.
M-i học l một l- nhỏ chừng một tấc bề kính. Trên b n ngồi l m bằng xi măng cốt sắt, có một rảnh đùa nước tiểu
xuống một l- nhỏ cỡ 5 mm. L m vệ sinh
trong buồng phải l m sạch ch- b n ngồi, v cho một lớp nước vôi. Ng y n o cũng vậy. Phía dưới cái l- tiêu đều có một thùng vuông bằng g- để trên một
nền xi măng trong một học m-i cạnh khoảng 5 tấc. Trong những ng y đầu vừa hạ san, chúng tôi đã tiêu thụ sắn của
Ho ng Liên Sơn chính chúng tôi trồng, nên còn phân khá nhiều. Thùng n o cũng đầy phân. Tuy công việc chưa quen, nhưng những người
phụ trách cũng ho n tất chỉ tiêu, nghĩa l đổ phân v o thúng, rửa thùng cầu,
rửa dưới xi măng của học cầu, rồi gánh phân đi đ- v o một bãi sau trại, nơi m
các chuyên viên trồng tỉa sẽ dùng l m phân bón rau sau n y. Thật l công tác chưa quen. Vì khẩu phần nay chỉ còn 4 lạng thay vì 6
lạng như ở Ho ng Liên Sơn, v ở Nam H lúc đó chỉ có bột mì, nên chúng tôi nhận
m-i người một miếng bánh luột bằng cái chuông xe đạp v o buổi trưa v buổi ăn
chiều. Còn buổi sáng, m-i người được
một phần tư cái chuông xe đạp. Chỉ vì
trại ăn xén bớt của chúng tôi, họ cân 4 lạng chất bột đã nhồi nước thay vì 4
lạng bột khô. Vì thế, chỉ còn cái
chuông xe đạp. nên có anh nhịn đói chưa
quen, đã nhận l m công tác đổ cầu cho những ai chịu nhịn cho hắn phân nửa khẩu
phần ăn buổi sáng. Chuyện đó sớm được
phanh phui, v chúng tôi lại bị “lên lớp”.
Đây không phải lần đầu tiên những người tù phấn đấu với cái đói triền
miên, vì mọi sự thay đổi trong nếp sống đều l những thử thách, những bức tường
phải vượt qua. Khi v o trại Long Giao[1], chúng
tôi đã có lần l m một con g trống gi để l m thức ăn cho 375 cựu đại
thần. Lên Ho ng Liên Sơn, chúng tôi tuy
ăn được 6 lạng chất bột nhưng m-i ng y đều đi rừng đốn cũi, đốn g-, lấy tre nứa
về l m nh , cung cấp cột đèn cho Liên Trại, nghĩa l lao động nặng ngo i sức
tưởng tượng của cái tuổi về chiều.
Nhưng kỳ n y về Nam H , tuy lao động lúc đầu coi như nhẹ hơn, nhưng bao
tử đã quen với mức 6 lạng rồi, nay tụt xuống 4 lạng l nó lại kêu la. Thật l “các anh chưa rèn luyện bao tử đúng
mức. Khi vượt Trường Sơn, chúng tôi
(Việt Cộng) m-i ng y chỉ có một vắt cơm m phải lội bộ không ngừng”. Có anh bảo rằng:”nếu được tha, việc đầu tiên
l mua 10 ký khoai lang m ăn cho đầy bụng rồi hạ hồi phân giải”. Kẻ thù đầu
tiên khi v o tù l cái “đói”. Nó dằn
vặt con người liên tục. Vì thế, trong
trại thường nảy sanh một số đạo sĩ, dạy thiền, dạy tịnh. Thứ nhất l giúp ta quên đi cái đói nó ám ảnh
triền miên, thứ nhì l nó giúp ta lấy khí công m bồi dưỡng thể chất, nghĩa l
“ở tù, chỉ có không khí l không mất tiền mua”. Tường c ng
cao, chí c ng cao. Những ai còn nghĩ
đến cái đói thì người đó chưa rèn luyện ý chí đúng mức cần thiết. Họ sẽ mãi chạy theo cái đói. Họ ăn lá cây, ăn c o c o châu chấu, họ ăn
bất cứ thứ gì ngo ngoe. Rồi họ sanh
bệnh, không có thuốc chữa thì họ chết. Khi một hồi kẻng đánh v o
lúc 9 giờ tối, mọi người đều v o mùng ngủ.
Lúc đầu thì số người không quá đông, m-i buồng còn chứa 75 người. Đại khái , ch- nằm chiếm hai phần ba chiếc
chiếu tám tấc. T m tạm cũng còn nằm
ngửa ra m ngủ, nhưng cũng phải cẩn thận khi xoay người. Đến khi “biên chế”[2]
lại m-i buồng 100 người thì ch- nằm chỉ còn 4 tấc, phải nằm nghiêng mới không
chạm v o nhau, phải nằm trái trả[3]
để đôi khi trở mình có thể nằm ngửa.
Cái khổ của nơi chốn đông người l thích ứng được với những người sống
lân cận mình m thường khi ta không có quyền chọn lựa. Chúng tôi gặp phải một thư sinh hiền hậu nằm
bên cạnh, đó l huynh trưởng họ Dương.
Anh thích đánh cờ, đọc sách. Bất
cứ lúc n o, nếu không đọc sách thì anh hầu cờ.
Ch- đã hẹp còn phải chừa cho anh v bạn anh đủ ch- ngồi xếp bằng, hai
đầu gối bẹt ra hai bên thì đã “vượt biên” rồi.
Ngo i hai đấu thủ còn một số hai ba anh nữa chầu rìa. Họ ồn o thì còn tha thứ được. Họ hút thuốc l o ph khói thì cũng còn chịu
được. Nhưng vì những lúc trại phát to n
thức ăn khó tiêu như “bo-bo”[4]
thì chao ôi! mức độ thả bom không khác gì B-52, thối um cả buồng. Vì vậy nên tôi xin anh bạn họ Dương hãy nới
tay cho, chỉ trong ng y cuối tuần thì anh hãy mở cuộc thi đấu để tôi còn có thể
tránh đi ch- khác. Vì lao động mệt mỏi
cả ng y, tối lại chỉ cần ngủ để lấy sức m đêm n o cũng phải xem anh đánh cờ v
ngửi chất độc thì khó m chịu nổi.
Tưởng đâu tình anh em đã sứt mẻ, nhưng chúng tôi vẫn vui vẻ bên
nhau. Tôi thích anh, vì anh hay
chữ. Anh giỏi tiếng Việt, tiếng Anh đã
đ nh, tiếng Pháp cũng thông, anh còn giỏi cả chữ Hán. V sau n y, nghe đâu anh đã xuất bản một tự điển Hán Việt tại
Canada. Khi nói chuyện với nhau về thời
sự, anh rất khiêm tốn v kín miệng. Khi
b n về văn học thì tôi chỉ l học trò con.
Tôi lại thích học chữ Hán. Anh
lại s nh về chữ Hán. Vì vậy m tôi đ nh
nhịn, vì anh l đ n anh lớn tuổi, phong độ lại đáng kính, nên tôi nhịn tất cả
để đổi lại tình yêu thương của anh như ruột thịt, v nhờ thế anh sẵn s ng chỉ
bảo cho tôi về chữ Hán. Thật trong cái
khổ, ai cũng muốn thoát ra, bằng cách n y hay cách khác. Cũng vì cái khổ m có người đã liều chết
trốn trại. Nhưng tôi lại nghĩ, cái an
to n nhất lúc bấy giờ l cứ để chúng nhốt, nhưng ta phải sống. Chẳng những sống không bệnh tật, m nhờ ho n
cảnh để tập cho sống thanh thản v sống khỏe.
V có biết bao nhiêu đ n anh giỏi giắn giúp đỡ cho tôi để luyện khí, để
dưỡng thần, v nhờ thế, có thể nói rằng “mặc cho núi thẩm rừng sâu, chí vẫn
vươn cao dù thân xác gầy còm”. Một ng y lao động l một
ng y rèn luyện cơ thể. Nơi chúng tôi
lao động l một bãi sình, phải lên líp trồng rau, cạnh bên bờ sông Đáy. Sông Đáy l một nhánh sông nhỏ, khi tới Ba
Sao chậm lại uốn khúc dần d men v o khe núi vôi cao vút. Bên kia sông có một cái miếu, không rõ thờ
vị thần n o. Thế đất quanh miếu đúng l
hai con hổ phục, chắc miếu n y linh lắm.
Khi sông Đáy hút thẳng v o vách núi vôi nhọn liễu, nó sẽ núi kia l m hai
mãnh m nhét v o đó cái trại B nhốt tù Mỹ trước kia. Hai bên bờ sông l sình lầy. Dòng sông hẹp lại chỉ còn v i thước khi hạn hán. Chúng tôi đã từng giẫm lên sông n y để “cải
thiện”, bắt óc, bắt cá. Cả xóm đều tụ v o những khúc quanh nước cạn, người
thì mang xuồng, người thì chụp nôm.
Trên xuồng, người cầm gậy d i đánh mạnh xuống mặt nước nghe đánh “chát”
một cái, cá tr o[5] nghe
tiếng sợ hãi bắn lên cao rồi cấm đầu rớt xuống, giống như một phi cơ đứt
đuôi. Người ta nhìn vị trí cá cấm đầu
xuống m đem nôm đến đó chụp sâu. Hễ
nghe cá cựa quậy thì thò tay v o bắt.
Hễ chưa nghe cựa quậy thì lại nôm tiếp vùng kế cận. Họ bắt từ con bé đến con lớn. Hầu như ít có cá n o thoát khỏi sự săn đuổi
rầm rộ của cả xóm. V trong số người đó
lại có tôi. Vì tôi nằm trong nhóm hai
người phục vụ nước nôi cho cả đội, v xin được “cải thiện” v o giờ rảnh. Bạn có biết bắt cá tr o bằng tay không như
tôi thì không phải dễ. Chân r nhẹ trên
đáy sông bùn mềm, hễ khi n o b n chân cảm thấy một vật láng trơn thì hẳn cá
tr o cấm đầu ở dưới. Nhè nhẹ b n tay
đưa xuống, mấy ngón tay xòe th nh chỉa ba[6] v để
thân con cá nằm gọn giữa ngón giữa v hai ngón kia. Khi siết ba ngón tay lại thì cá hay lươn vô phương cựa quậy vẫy
vùng m chẳng cách n o vọt ra được. Bạn
cứ nghĩ, trong ho n cảnh đó m được một con cá tr o bằng cùm tay thì thật l
hạnh phúc. Những phần thưởng của Thượng
Đế như vậy, chúng tôi đều chia sớt với các huynh đệ, những người bạn kết nghĩa
trong tù, trong đó có tên họ Võ của đ n chim chúng ta. Điều đáng buồn cho xứ sở n y l dân chúng đổ
xô xuống dòng sông Đáy để bắt sạch s nh sanh, từ lớn đến bé, nên khi bạn thấy
một con cá rô mè mang đầy trứng m chỉ cỡ bằng ngón tay cái của mình, so với
con cá rô mè như vậy trong ruộng ở miền Nam thì chỉ còn một phần mười. Vật cũng thoái hóa, huống chi người. Nhắc lại dòng sông n y, khi hạn hán, chỉ còn
v i thước nước trên sông. Bãi bùn d i
ra năm sáu thước. Người Ba Sao xuống bờ
sông cấy lúa, may ra khi nước lên lại thì lúa cũng vừa chín để thu hoạch. Trong nhiệm vụ lấy nước nấu cho đội, có lần
hai đứa đi qua mấy cánh đồng khô mới tìm được một vũng sình. Khi đến thì một con cò đã quậy bắt cá con
thu về vùng nước cạn, nước đã đục ng o.
Nhưng còn cách n o hơn. Phải hớt
từng lon nước cho đầy hai thùng, m-i thùng khoảng 20 lít. Rồi từ đó mang về theo bờ đê trên gần cây
số. Tội cái thân gi ! Sau khi xong vụ xách nước về, chúng tôi lại
phải lấy cho được một bó củi gối đầu cho ng y hôm sau. Sáng một bó, chiều một bó. Củi khô thì không luôn luôn đủ, nên đ nh
phải chặt cây tươi về phơi. Trong vùng
núi vôi, khi giẫm lên các phiến đá nhọn dưới chân[7] , chẳng
những dễ bị trầy trụa m ngại nhất l khi các phiến đá không chịu nổi sức nặng
đè lên m gẫy sụp. Chừng đó, trên vai
một bó củi đè nặng, trớn đi tới sẽ nại óng chân bị sụp l- sẽ gây thương tích
trầm trọng. Vì thế, chân nhẹ như lông
hồng dù củi nặng trên vai, người lính gi bước nhanh từng bước nhỏ lướt trên
ngọn cỏ như kiếm khách khinh công trong các truyện Kim Dung. Một bó củi đã về, một phần khô, ba phần tươi
l đẹp lắm rồi. Vì anh bạn kết nghĩa
của tôi l anh bếp chánh, m-i ng y hai đợt nước sôi cho đội. Nếu có củi khô thì suôn sẽ. Có lần tôi thấy anh hì hục dưới mưa m bếp
lộ thiên lửa tắt không ngừng, khói bay ngập mũi. Nước mắt nước mũi chảy d i, anh cũng phải quạt cho lửa đừng tắt,
cho nước sôi mau. Từ xa nhìn cảnh ông
bạn gi của tôi phấn đấu, l m sao tôi không nghĩ đến việc phải tìm cho được củi
khô cho anh đốt. Ý l anh đã nghiên cứu
c i lò còn hơn khi anh nghiên cứu dùng pháo trên chiến trường An Lộc. Lò được đấp đất kín ba mặt v có l- thông
hơi phía sau để nhãø khói. Anh quạt từ
ngo i v o liên tục, v châm củi khô cho cháy trước, rồi chêm củi tươi v o. Cứ thế m quạt cho đến khi nước sôi. Khi tiếng quạt ngừng, tiến hô vang lên của
anh phát ra vui vẻ, cả lũ ngừng cuốc ngưng tay chạy v o lấy lon Guigoz cá nhân
ra, người thì pha tr , người thì nấu cơm, luộït mì ăn liền. Lon Guigoz xếp trên bãi than hồng m anh bếp đã c o ra sẵn. Rồi cứ thế m đi l m trở lại. Khi xong lao động thì cơm sẽ chín, tr đã
phứt mùi thơm. Chúng tôi ra về với bao
nhiều hớn hở trong lòng, nhờ có chút gì để bồi dưỡng sau buổi lao động mệt
nhọc. Anh nuôi[8] còn thì
giờ rảnh đi cuốc một bãi cỏ để trồng rau “cải thiện”, tuy vẫn biết l rau n y
có thể bị mất cấp. Có người trồng rau. Đó l các cụ từ 50 trở lên. Có người đập đá. Đó l th nh phần trẻ v khỏe.
Có người xây đường. Đó l số
đông các đội trẻ, từ Trung Tá đến Thiếu Úy.
Chúng tôi đều l tù khổ sai.
Chúng tôi đều l kẻ đã thua trận, đã th nh giặc. V chúng tôi có bay hay không đều l “giặc
lái” vì mang m u cờ sắc áo KQ. Có lần
tôi đi vác đá, gặp phải anh bạn đồng liêu, bèn hỏi anh:”nhớ anh chỉ còn một lá
phổi, sao vác chi nhiều thế?” Anh bảo,
“để rèn luyện thể lực!” May cho anh l
anh đã về được. Còn một người khác cũng
trong dạng thơ sinh l ông chủ nhiệm báo Lý Tưởng trước kia, anh vì vác đá m
phải ho ra máu, sau đó ở lại Ba Sao cho đến khi chúng tôi rời khỏi. Bây giờ, anh vẫn ở Ba Sao??? Người cộng sản với cái não
bộ con tép lại thích có những mơ mộng lớn lao.
Họ muốn biến vùng sình lầy trở th nh bao thửa ruộng trồng lúa. Họ muốn xây một con đường bằng sức tù, cao
gần 15 thước, mặt đường rộng gần 15 thước từ trại Ba Sao ra tận Phủ Lý. Miếng ruộng kia nay chỉ còn cỏ mọc, vì v o mùa lũ thì nước dâng cao khỏi nóc nh dưới
xã. Còn con đường kia thì có trở th nh
vườn chuối m thôi. Họ chỉ muốn sức
người “biến sỏi đá th nh cơm” để diệt cho chết lần chết mòn cả lũ bọn tôi. Những ng y lao động l những
ng y đóng góp tích cực v o sự mòn mỏi cơ thể.
Từ năm 1979 trở về sau, gia đình bắt đầu được thăm nuôi thân nhân trong
tù, loại tù như chúng tôi. Những b mẹ,
những người vợ, những đứa con, chân cũng đã mỏi vì tấm thân cũng gầy gò không
kém, m phải cố gắng vượt trùng dương...Tuyến đường sắt Thống Nhất nghe có vẻ
h o hùng lắm, nhưng phải mất ba ng y ba đêm từ Saigon ra H Nội. Những người đi Ba Sao thì xuống ga Nam Định,
rồi từ đó lấy t u chợ[9]
đi Phủ Lý. Từ Phủ Lý lấy xe đò về hướng
Chùa Hương rồi ghé trạm Ba Sao. Nhưng
thường thì, gia đình nhờ xe của trại quá giang về Ba Sao m nhập trại thẳng
thay vì phải na bao bì lội dốc từ ngã Ba Sao lên đến cổng trại cũng gần một cây
số. Cách quá giang xe trại l thượng
sách. V t i xế của trại cũng có dịp “cải
thiện”[10]. Những lần đầu, gia đình chưa kịp lau nước
mắt sau 4 năm d i mới gặp lại nhau thì đã hết giờ, vì chỉ được 15 phút thăm
nuôi. Cha chồng tức nhiên l gầy gò quá
cỡ, xanh xao vì ăn không đủ nuôi rệp nuôi đĩa, m nhất l bộ quần áo tù xem nó
nản ...l m sao ấy. Vì thế nên em khóc,
nên con khóc. Nhưng nhìn lại vợ mình,
con mắt bồ câu nay chỉ còn một hình tam giác.
Cái áo d i kia sao lại biến thể th nh áo b ba bó rọ, xem chẳng ra l b
Nhu hay b Bình. Thật chẳng giống
ai. Còn nhiều thứ để kể cho nhau nghe,
biết bắt đầu từ đâu? Vừa thò tay nắm
tay l đã bị rầy. Vừa muốn ôm nhau hôn
giữa trời thì bị chỉnh “nên giữ gìn văn hóa[11]”. Có lần tôi được thăm nuôi cùng với ông bạn
gi KQ chúng ta, thấy cảnh mẹ gi bốc bánh đút cho con, thật tôi ứa nước
mắt. Rơi lệ vì tôi ganh, phải chi tôi
cũng được mẹ ra thăm. Trường hợp của
anh bạn tôi cũng thật khổ sở. Hồi đất
nước bị chia đôi, mẹ gi v chị em vẫn kẹt lại H Nội. Qua bao cuộc bể dâu, chị v em cũng phải lấy
chồng, v chồng cũng phải đi bộ đội, cũng lên đến cấp cao sau nhiều năm chết
sống ngoại trận tuyến. Nên b cụ có
được xe con đưa rước. Có lần b chống
nạnh lớn tiếng:”Tôi có con l m lớn cả hai bên”, chỉ vì ban tiếp tân không cho
b thăm buổi sáng m giữ b lại đến chiều.
Chiếc xe con b phải trả lại trong buổi chiều nên b đ nh lên tiếng để
chúng phải nhờ người ra bãi lao động gọi anh bạn tôi về cho mẹ thăm cho
kịp. Lâu ng y gặp nhau, mẹ thì lúc n o
vẫn l mẹ, con dù nay đã bạc đầu nhưng vẫn l con. Cảnh mẹ đút con ăn như cánh chim gi luôn luôn mơn trớn d- d nh
đùm bộc lấy con, thật l l m cho tôi phải mũi lòng. Cũng có người vì thăm nuôi m trở nên mất dạy. Có một ch ng Vô Dụng ng y n o, cứ muốn ngủ
đêm với vợ nên đ nh l m ăng ten cho trại.
Ng y nọ, khi trời mưa lăm răm trên cái trại khô cằn n y, tôi đang lo nấu
nướng bên hong nh , bổng thấy ch ng Vô Dụng kia xách hai lon Guigoz đi
qua. Có hai người thân trùm áo mưa, mũ
đội sụp che mặt tiến gần anh ta. Hai võ
sĩ đánh cùng lúc, một đánh v o ngực, một đánh v o lưng, giống như sức đánh của
các ch ng đập đá. Vô Dụng quị xuống
dần. Một người to con khác tiến lại
gần, một tay đỡ anh lên đến khi gối chưa thẳng thì tay kia nện xuống từ đỉnh
đầu. Vô Dụng sụm xuống nằm d i, ngất
ngư. Một thời gian sau đó, tôi thấy Vô
Dụng báo cáo với “cán bộ buồng”[12]
rằng:”Chúng nó đánh tui”. Nghe đâu sau
đó v i năm, Vô Dụng đã trở th nh người hữu dụng, l m phân bón rừng Ba Sao. Đó l một gương xấu cho những người vì quá
vị kỷ m quên đại thể. Những người đó
bất t i vô tướng, trong hiểm nguy hay sớm nản lòng. Tường quá cao, anh đ nh
chui l-. Những con người kém chí
khí thì không thiếu gì, nhưng những con người chỉ biết mình m quên cả bạn bè
thật không đáng sống. Trại luôn luôn ly
gián chúng tôi. Họ bắt chúng tôi viết
về các tướng lãnh m mình biết, hầu mở đường cho những ai có hiềm khích với cấp
trên trước kia, phanh phui ra những điều nhơ nhớp nhất để họ khai thác. Nghe đâu sau đó, họ đã dựa v o những dữ kiện
có thật m viết ra quyển “Chân Dung Các Tướng Ngụy”. Có lần tôi tấm ngo i giếng lớn của trại sau một ng y lao động mệt
nhọc, có một anh trẻ chen lấn một cụ gi để gi nh ch- lấy nước. Cụ gi bảo:”Sao anh ỉ khỏe m hiếp đáp người
gi cả như tôi?” Anh kia bèn đáp:”Gi ,
mặc kệ ông!” Ho n cảnh nhiễu nhương đó
l m cho nhiều người suy nghĩ. Muốn tái
lập trật tự trong tù, không phải l chuyện dễ.
Có người tụ tập hát ca, lôi kéo các bạn trẻ về phe mình. Ngay ng y hôm đó, trại thách thức ra đánh
nhau với chúng. Vì thế, đã có nãy ra ý
kiến phóng tin đồn thất thiệt để lấy lại lòng dân. Qua các kỳ thăm nuôi, chúng tôi rỉ tai với gia đình rằng, một
ng y n o đó, Mỹ sẽ rước chúng tôi đi.
Cũng nhờ có nghe được đ i VOA v BBC[13]
nói về sự trao đổi giữa Mỹ v Cuba, Mỹ cho Cuba máy c y, Cuba cho Mỹ nhận những
người tù chính trị nhốt ở Cuba. Chính
anh “bạn gi một phổi” của chúng tôi cũng đã thảo luận với chúng tôi về cái tin
Cuba ấy. Anh bảo:”Có thể lắm, chẳng hạn
như l một trao đổi chính trị”[14]. Tin đồn ấy về tới Saigon thì phao ra rất
nhanh. Rồi có những b vợ đi thăm chồng
hớn hở hơn trước nhiều, vì tin rằng có một ng y, vợ chồng sẽ rời cái chế độ hắc
ám n y. Chúng tôi còn phao tin rằng,
khi sang Mỹ rồi, Mỹ sẽ cất nh cho ở, mua xe cho chạy, bảo đảm công ăn việc
l m....Những điều hấp dẫn đó còn được các b n cơ, nghe lời dạy của Thánh Phan
Đình Phùng rằng khi các quan đại thần về, sẽ có Cờ Hoa[15]
đón rước. Khổ cho người viết b i n y l
sau khi qua đến Mỹ rồi, lại đi tìm việc l m ở một sở của County, lo về tiếp đón
v chỉ lối cho những người sắp sửa qua.
Họ hỏi chúng tôi tại sao, các người tù các anh lại nghĩ rằng, sang đây
thì bất cứ gì, chính phủ đều lo cho hết.
Tôi giải thích với họ rằng, đó l vì nhu cầu chiến tranh tâm lý với đối
phương trong tù, thì họ mới vỡ lẽ ra v cười toét miệng. Tóm lại, cái dũng của người thất thế thật
khó m tạo nên được. Không ai còn kiên
nhẫn chờ đợi m mình phải gieo v o trí não của họ phải l m thì mới nên
chuyện. Bao nhiêu người đã sa ngã, đó
cũng l chuyện bình thường. Hồi Thế
Chiến Thứ Hai, một ông bộ trưởng của nước Lang Sa đã l m tay sai cho Đức Quốc
Xã trong tù. Sau đó, khi ông n y trở về
Pháp, những cựu tù đã phanh phui ra chuyện cũ, tất nhiên lá b i bị lật tẩy
ngay. Cái mừng cho những cánh chim của
chúng ta, không ai l m việc hồ đồ.
Chúng ta tự h o đã từng giúp đỡ nhau hết mực, m-i khi bệnh tật[16],
chia cơm sẻ áo hằng ng y. Những kỳ kỷ
niệm ng y lễ Không Quân trong tù, chúng tôi đều hội họp với nhau. Không phải đến độ hát lên Không Quân H nh
Khúc, nhưng chúng tôi ngồi lại với nhau v o một buổi trưa, ăn cơm tù, nói
chuyện thương nhau, nhớ nhau, kể lại những người bạc phước đã sớm rời bỏ chúng
ta ở các trại khác, v nhất l rút tỉa kinh nghiệm cho những vấn đề trong
tù. Những điều đó, sau khi qua đến Mỹ
rồi, chúng tôi rất buồn l đ n anh chúng tôi không khi n o hỏi đến khi gặp mặt
lần đầu. Có lẽ họ nghĩ về tương lai của
họ không thể được xây dựng trên thân xác của những đồng đội đã không may bỏ
mạng trong tù. Trái lại, trong các cuộc
hội họp, người ta vẫn nói đến “không bỏ anh em,...” Có lẽ chỉ cùng chung ho n cảnh mới hiểu được nhau chăng? Vì thế, chúng tôi rất ngại viết lên sự thật,
vì nhiều người sẽ nghĩ rằng “cường điệu”[17]. Những kinh nghiệm thật đã viết trên sách vở
bằng Pháp văn hay Anh văn, chúng tôi cũng đã đọc trước đây m không mấy
tin. Ngay trong tù, chúng tôi cũng đã
đọc được một v i tác phẩm nói về những người trở lại các nước Đông Âu để cứu
gia đình còn kẹt lại, họ đã gặp những khó khăn gì. Ví dụ như, sau 20 năm thống trị, cộng sản vẫn còn sợ ho ng tộc
các nước đó trở về lật đổ. Vì vậy,
những câu chuyện thật xảy ra ở Ba Sao m chúng tôi nêu ra lần n y chỉ để nói
lên một điều, bất cứ trong ho n cảnh n o, chúng ta phải kiên nhẫn vượt qua mới
l m nên việc lớn. “Tường c ng cao, chí
c ng cao!” Tháng 8-2003 [1] Trại Long Giao l trại đầu tiên, tập trung cựu quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bắt đầu giai đoạn cải tạo tư tưởng. Trạo n y l Trung Tâm Huấn Luyện Địa Phương Quân của Sư Đo n 18 Bộ Binh trước kia. Các kho đạn còn y nguyên, trong đó có cả lựu đạn. [2] Đổi tổ, đội hay buồng, để phòng ngừa tù bắt cặp với nhau tổ chức trốn trại hay l m lọan. [3] Một nằm xuôi, một nằm ngược, v cứ thế tiếp diễn. [4] Bo-bo l lọai mì hạt còn lức, nghĩa l chưa ch cái vỏ cứng bên ngòai. Nếu có bao tử như cái mề g thì hòan tòan thích hợp. Thường thì phải chịu khó lấy ny long tốt nghiền nát trước khi ăn thì mới dễ tiêu. [5] Cá lóc hay cá quả. [6] Chĩa ba l ngón giữa v hai ngón kế cận hợp th nh. [7] đi chân đất l số đông trại viên khi đi rừng kiếm cũi, vì rất ít người được tiếp tế gi y. [8] anh nuôi l người nấu bếp [9] t u chợ ngừng tất cả các ga đi ngang qua, còn t u suốt từ Saigon ra H Nội chỉ ngừng các ga lớn. [10] kiếm chút tiền còm. [11] VC gọi hôn nhau trên môi l “bú mồm” [12] cai tù phụ trach buồng [13] Xin xem thêm b i TIN ÂM PHỦ đăng trên web site n y, trong trang Hồi Ký để hiểu thêm tại sao chúng tôi có thể nghe các đ i VOA v BBC trong tù. Người phụ trách chuyện n y l một Thiếu Tá Cảnh Sát, sau đã bị cai tù hỏi cung v đánh đến chết. Anh Hằng nằm lại Ba Sao vĩnh viễn. [14] Trao đổi chính trị đó l đưa Việt Nam v o Liên Hiệp Quốc để cho tù chính trị được ra nước ngo i theo diện HO. [15] Cờ l Kỳ, Cờ Hoa l Hoa Kỳ [16] Chắc “Tâm giò” còn nhớ khi bị sạn thận ở
Xuân Lộc được chữa bằng thuốc Nam như thế n o.
Đó l do sự đống góp của tập thể KQ chúng ta. [17] Nói phóng đại. |