|
Hoàng Phủ Ngọc Tường, Kẻ Hái Phù Du Sau Thảm Sát Tết Mậu Thân 1968 tại Huế Mường Giang Triết Gia Ðức M.Heidegger từng ví con người như một Être Pour La Mort, coi đó như một sinh thể cho tử vong tử diệt, giống như quan niệm trong Triết Học Phật Giáo, cho rằng đời là bể khổ trong cõi thế vốn vô thường,để rồi rốt cục ai cũng phải chết. Tóm lại sinh tử là lẽ tất yếu của con người không ai tránh khỏi,nhưng để yên tâm bước vào cõi vĩnh hằng, hầu như ai cũng cố gắng giữ trọn đạo làm người, tốt cho mình,ích cho đời và lưu danh cùng sông núi. Sau ngày 30-4-1975, cộng sản Hà Nội huênh hoang tuyên bố tất cả những trò lừa bịp chính trị đã làm từ năm 1930 là thời gian mà đảng cộng sản quốc tế chính thức xâm nhập vào VN, cho tới khi dùng bạo lực cưởng chiếm được toàn thể quê hương. Ðể chia chung tội danh thiên cổ đã làm hủy hoại đất nước Lạc Hồng suốt bao năm qua, Việt Cộng đểu cáng, đã lôi bọn việt gian VNCH, từng giúp giặc đâm sau lưng người lính miền nam , vào chung xuồng, tung hê ca tung bọn ăn chén đá bát này khi viết lại lịch sử cận đại bằng chủ thuyết Mác-Lê cộng với những huyền thoại hoang tưởng,về cái gọi là chiến thắng ba đại đế quốc Pháp,Nhật,Mỹ.. Trong khi đó, ngàn thảm kịch vĩ đại,vạn oan khiên tột cùng, núi xương,sông máu và những cơn giông bảo nước mắt của triệu triệu nạn nhân cộng sản trong bao năm qua,bị chế độ độc tài đãng trị cùng những trí thức không tim óc tiếp tay,chôn dấu vùi dập một cách tận tuyệt trong đáy mộ thời gian. Nhưng lịch sử vốn vô tình và rất công bằng, nên nhiều trí thức buổi trước đã ồn ào ca tung Việt Cộng, nay vì lương tâm và trên hết là sự thật, phải thay ngòi bút để viết lại lịch sử, lôi ra ánh sáng những uẩn khúc bi kịch , lột trần những huyền thoại của đảng cọng sản VN. 1968-2002, bao chục năm qua nay cũng đã đủ để khai quật nấm mồ lịch sử về cuộc thảm sát của Việt Cộng , mà nạn nhân đa số là dân chúng vô tội , trong trận chiến tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Theo nhận xét cuả học giả Nguyễn Hiến Lê thì muốn viết lịch sử, phải sống cùng lịch sử ít nhất một thời gian. Do trên hiện có một số lớn nạn nhân sống sót sau thảm kịch Mậu Thân Huế 1968, đã quả quyết thủ phạm chính cuộc tàn sát dã mang lúc đó là những thành phần trong cái mặt trận Liên Minh Dân Tộc Hòa Giải do Hà Nội dựng lên tại Huệ vào ngày mồng ba tết MT(1-2-1968) gồm Lê văn Hảo, Hoàng phủ ngọc Tường, Hoàng phủ Ngọc Phan,Nguyễn Ðắc Xuân,Nguyễn Ðoá, Ðào thị Xuân Yến, Hoàng phương Thảo.. Bia đá trăm năm có thể bị huỷ diệt bởi con người và thời gian, lịch sử cũng vậy có thể cũng bị thay đen đổi trắng bởi bọn cầm quyền và đám bồi bút vô loại nhưng bia miệng thì không bao giờ bất biến bởi chúng là những tác phẩm vô hình không chữ nghĩa. Sau năm 1975, hầu như bọn phản tặc VNCH đều bị Hà Nội cho ra rìa, trong số này có anh em nhà Hoàng Phủ. Con người dù có trái tim cao su hay nhân tạo, đôi lúc trong một thoáng bâng quơ nào đó. cũng tịnh tâm xúc động về tội ác của mình,phương chi Hoàng Phủ Ngọc Tường lại là một trí thức, giáo sư, vương tôn công tư,û được sinh ra vả sống trên đầu hàng triệu triệu người lầm than đen đói VN, nên Ông chắc cũng hàng đêm sám hối về tội phản quốc va øsát nhân của mình đối với đồng bào vô tội, rồi tủi phận, rồi bứt rút, cuối cùng tâm tư đã tuôn hết trong thi phẩm ‘Người hái phù dung’, ăn năn thương tiếc tuổi hoa niên thơ mộng khi chưa lầm đường theo giặc giềt hại dân tộc mình: ‘Ta tìm lại trong hình hài hóa bướm Chút tự do quả thực trên đời . rủ sạch hết đam mê hoang tưởng nuí thông nhiều ta hãy rong chơi.’ 1-HUẾ, CỐ ÐÔ TRONG DÒNG LỊCH SỬ VN: Tỉnh Thừa Thiên nằm giữa miền Trung VN, có diện tích 5054km2 và dân số tính đến năm 2000 là 1.045.134 người với các quận Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, A Lưới và Nam Ðồng. Tỉnh Lỵ là thành phố Huế hiện nay có diện tích 380km2 với 209.043 người. Theo từ nguyên, Huế là do Hoá tên nôm của Thuận Hóa đọc trại ra nhưng đến nay vẫn chứa tìm được xuất xứ, ngoài tên Huế được đề cập lần đầu, trong bài văn viết bằng chữ nôm ‘Thập giới cô hồn quốc ngữ văn’ của đại đế Lê Thánh Tôn (1460-1497). Là cố đô của nhà Nguyễn (1802-1945), Huế muôn đời vẫn đẹp và thơ mộng, mang nhiều sắc thái tiêu biểu cho dân tộc, nhân chứng của một chặng đường lịch sử, văn hóa, kiến trúc VN, nên trong hội nghị lần thứ 17 tại Catagenna nước Columbia, vào tháng 12-1993, tổ chức UNESCO của LHQ , đã công nhận Huế là di sản văn hóa của nhân loại cần bảo tồn. Nghĩ về Huế, dù là địa phương hay kẻ viễn khách , ai cũng đều ưa thích nhưng công trình kiến trúc lịch sử cung điện và lăng tẩm của các tiên vương nhà Nguyễn. Kinh thành Huế do vua Gia Long cho khởi công xây cất từ năm 1805 mãi tới năm 1838 đời vua Minh Mạng mới xong. Ðây là một tòa thành hình vuông,,mỗi cạnh 2.223m, bề cao 6,60m, chân thành có hào sâu 4m,phía đông nam sát bờ sông Hương nhìn về phía trước là núi Ngự Bình. Ngoại thành hướng bắc có pháo đài Mang Cá, ngoài ra còn có 10 cửa chính với những vọng lầu cao ngất, dùng để ra vào. Tòa thành được kiến trúc độc đáo, từ kiểu Vauban của Pháp cho tới nghệ thuật xây cất Á Ðộng, biểu hiện nét hoành tráng,lộng lẫy nhưng không kém phần thơ mộng trang đài từ vách thành,vọng lầu,cửa ngọ môn..cho tới đền đài cung các được chạm trổ, điêu khắc hài hòa trong cảnh trí thiên nhiên tuyệt diệu. Ngược dòng lịch sử, từ năm 1366 Huế đã là thủ phủ của Ðàng Trong, tức là hai Châu Ô, Rí do vua Chế Mân cuả Chiêm Thành, dâng cho nhà Trần làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của Ðại Việt, từ đó trở thành đất Thuận Hóa. Những gì còn lại của Huế hôm nay chỉ là một phần công trình của cố đô trong đống gạch vụn do Việt Cộng và bọn Việt Gian VNCH tàn phá vào Tết Mậu Thân 1968. Ngoài ra Huế còn nhiều nét tiêu biểu khác như Chùa Thiên Mụ,cầu Trường Tiền,Chợ Ðông Ba, với trường Quốc Học cổ kính nằm cạnh bờ sông với hàng phượng vỹ nở rộ mỗi độ hè về, nuí Ngự Bình trước tròn sau méo, sông An Cựu nắng đục mưa trong,hồ Tĩnh Tâm sen nở ngút ngàn và Phú Văn Lâu trơ gan cùng tuế nguyệt. Nói tới Huế để nhớ về những hình ảnh nổi bật dịu dàng của người dân đất thần kinh như mái tóc thề, tà áo dài trắng, chiếc nón bài thơ, những giọng hò, câu hát..tất cả là những nét đẹp làm Huế miên viễn sống với sông núi thời gian. Ðến Huế để ăn những món vương giả cũng như bình dân tính hơn 600 món vừa chay,vừa mặn, vừa cháo,vừa chè kể cả bánh,mứt và đủ thứ dưa. Ðến Huế đâu quên món bún bò giò heo cọng to rất cay,rồi thì bánh khoái nơi cửa Thượng Tứ, chiều tối đi ăn cơm Âm Phủ, là thứ cơm thập cẩm đặc biệt với món dưa gan làm món chua rất ngon. Cũng đâu quên được cơm hến bến Cồn, một hương vị đặc thù của Huế, giống như nem chua An Cựu, mè xửng và ốc gạo bến Cồn, mực Thuận An và sò huyết Lăng Cô. Cuối cùng nhớ Huế là nhớ đến công trình mở nước vĩ đại của các Chúa Nguyễn Hoàng,Sải Vương,Hiền Vương, Phúc Chu, Phúc Trú..cho ta một giải giang sơn gấm vốc tới tận mũi Cà Mâu no giàu để con cháu về sau một đời sung mãn. Những đấng Tiên Vương c6ng đức và sự nghiệp ngất cao như núi trên,từ khi VC lên nắm quyền, đã bị chúng huỷ diệt, để dành công, dành tiếng và dành địa vị độc tôn yêu nước trong dòng sử Việt. Từ năm 1967,Hà Nội đã quyết định tổng tấn công VNCH vào những ngày hưu chiến Tết Mậu Thân 1968. Trong số 44 tỉnh,thị tại miền nam bị đột kích, thì Saì Gòn và Huế là quan trọng hơn cả. Vì trại Lực lượng đặc biệt A-Shau rút đi, nên thung lũng A Shau bị bỏ ngõ và VC đã lợi dụng dịp này để chuyển một số lớn bộ đội vào tấn công cố đô với sự dẫn đường chỉ lối của đám Việt Gian VNCH tại Huế. Trận chiến mở màn vào sáng mồng hai Tết, nhằm ngày 2-THẢM SÁT MẬU THÂN TẠI HUẾ: Những hành động dã man nhắm vào dân lành tại Huế , làm nhớ tới Nga Sô tàn sát hơn 5000 hàng binh Ba Lan phần lớn là sĩ quan vào tháng 9-1939 tại rừng Katyn ở phía tây thành phố Smolensk, chứng tỏ bản chất hiếu sát vốn tiềm tàng trong máu óc của cọng sản, dù chúng là ai chăng nửa, tất cả đều giống nhau vì cùng chung một tổ,một lò.Trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, Huế là thành phố bị thiệt hại nặng nhất về nhân mạng cũng như vật chất vì bị VC chiếm đóng lâu dài nhất. Riêng người Huế sỡ dĩ bị tàn sát dã mang, theo một số nhân chứng , do VC được chỉ điểm bởi một số nằm vùng địa phương vì thù oán nhau mà trả thù, rồi lại được tự do đi lại trong thành phố nên tự do hành động, nhất là trong khoảng từ mồng hai tới mồng bốn, tha hồ đi từng nhà,lôi từng người ra bắn giết theo ý muốn, đúng với kỹ thuật bắt và thủ tiêu theo KGB và Maoit . Ðọc lại những trang sử của VNCH từ 1963 tới tháng 4-1975, ngày nay cả thế giới đều công nhận là VC thua VNCH trên mặt trận quân sự nhưng ngược lại chiếm được miền nam bằng thủ đoạn chính trị, qua phương cách xách động quần chúng, đồng thời vin vào đó mà nặn ra những mặt trận MA như Giải Phóng Miền Nam năm 1960, rồi sau đó là Hội Ðồng Nhân Dân Cứu Quốc do phần lớn cọng sản nằm vùng lãnh đạo như Lê Khắc Quyến, Lê Tuyên,Tôn Thất Hanh, Lê văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm.. Trong số các hung thần can dự tới bửa tiệc máu tại Huế, dư luận trước sau vẫn nhắm vào Lê văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan và Nguyễn đắc Xuân. Năm 1966 khi còn là một sinh viên, Nguyễn đắc Xuân từng tổ chức đoàn ‘Phật Tử Quyết Tử’ quậy nát Huế, sau đó trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội ‘Công tác thanh niên’ và khuyến dụ các quân nhân VNCH bị kẹt, để lập cái gọi là đoàn nghĩa binh.. Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế không hưởng ứng tổng khởi nghĩa, trái lại bỏ trốn sang các khu vực có QLVNCH như Mang Cá, Trường Kiểu Mẫu, Tiểu Khu Thừa Thiên, Bến Tàu, Phú Bài.. Bắt đầu ngày mồng ba Tết, QLVNCH và Hoa Kỳ phản công, ngày Theo Nguyễn Lý Tưởng, thì những hành động dã man của Việt Cộng, tại Thành Nội và Gia Hội, do cái gọi là Toà Án Nhân Dân được quyết định bởi các chóp bu trong Liên Minh Dân Chủ Hòa Bình, là Lê văn Hảo, Thích Ðôn Hậu, bà Nguyễn Ðình Chi.. nhưng chủ chốt và dã man tàn bạo vẫn là bọn theo phong trào tranh đấu chống VNCH năm 1966, sau đó theo VC và quay về Huế như Hoàng phủ ngọc Tường (giáo sư), Hoàng phủ ngọc Phan (sinh viên y khoa), Nguyễn đắc Xuân (sinh viên sư phạm), Trần quan Long (sinh viên sư phạm), Phan Chính Dinh hay Phan Duy Nhân (sinh viên).. dẫn an ninh VC như Tống hoàng Nhân, Bảy Khiêm.. đi lùng bắt bạn bè, thân nhân,các thành phần quân,công, cán,chính VNCH cũng như các đảng phái bị kẹt lại tại Huế. Hiện nay tất cả những bí mật của lịch sử gần như được khai quật trong đó có cuộc thảm sát thường dân tại Huế năm Mậu Thân. Những tội nhân thiên cổ ngoài bản án của lương tâm, đạo đức và sự nguyền rủa của đời, nên không ngớt tìm đủ mọi cách để biện minh về tội lỗi của mình. Năm 1988, trên báo Sông Hương và được dịch đăng lại trên tờ Newswwek ở Hoa Kỳ, Ðại Tá Bắc Việt Lê Minh, nguyên chỉ huy mặt trận Thừa Thiên-Huế, xác nhận và chịu trách nhiệm về việc tàn sát dân chúng Huế nhưng vẫn đưa ra lý do là lúc đó VC đang ở vào giờ thứ 25, nên không kiểm soát được. Còn thủ phạm chính Hoàng phủ ngọc Tường thì đổ thừa cho cục bộ, địa phương chứ không phải tại đảng, vẫn giữ nguyên ý là miền nam mất vì cách mạng chứ không bị cộng sản quốc tế xâm lăng, và trên hết vào ngày 12-7-1997 Tường công khai chối tội là không tham dự mặt trận Huế, vì lúc đó y đang trốn tại địa đạo trong quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Còn nhân vật bị bia miệng nhắc tới là Hoàng phủ Ngọc Phan.. mà người Huế tưởng lầm? Lê văn Hảo hiện đang sống tại Pháp cũng chối tội. Sau rốt chỉ có Hoàng phủ Ngọc Phan và Nguyễn đắc Xuân vì lúc đó gần như là công an, cai tù ,chánh án và đao phủ thủ.. nên người Huế ai cũng nhận được,vì vậy phải chịu tai tiếng nhơ nhớp muôn đời. Ngày nay ai cũng biết Tết Mậu Thân VC thua lớn và Tổng thống Hoa Kỳ là Johnson phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước lịch sử vì đã cố tình tạo nên một lỗi lầm nghiêm trọng về đạo đức., gây tử vong cho nhiều người có thể tránh khỏi nếu được báo trước sự thật. 3-HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG, KẺ HÁI PHÙ DU: Phù Dung là một thứ hoa chỉ sống được có một ngày, nở vào buổi sáng và tàn lụn theo bóng đêm tàn, thứ hoa phù du mây nổi mà thi nhân thường mượn để ví những đệ tử của nàng tiên nâu. Hoa phù dung rất đẹp, cây cao chừng hai thước, lá to, hoa phù dung thường có ba màu đỏ, trắng và vàng. Hoa phù dung còn được ví với sắc đẹp của người đàn bà, như trong thơ của Bạch Cư Dị :’ Phù dung như diện, liễu như mi ‘, nghĩa là mặt tươi như hoa phù dung, mày lá liễu. Trong Kiều có câu ‘ Bạc tình nổi tiếng lầu xanh,một tay chôn biết mấy cành phù dung..’ nhưng thắm thía nhất vẫn là hai câu thơ trong Quan Âm Thị Kính :’ Phù Dung nỡ để lìa cành, giếng sâu nỡ để rơi bình từ đây ‘. Theo triết học, thì kiếp phù du chỉ là một cuộc phong trần không không có có, không nở không tàn,lúc có lúc không, tất cả chỉ là phù du trong cỏi vô thường. Thơ văn là biểu tượng của con người, Tố Hửu bàn chất chạy theo thời để mưu cầu quan chức, địa vị nên thơ Tố Hửu luôn mang bản chất của một con người đội trên đạp dưới. Cao Bá Quát, Nguyễn công Trứ, Văn Thiên Tường,Nguyễn Bá Trác kẻ sĩ gươm đàn nửa gánh giang sơn một bầu..cho nên thơ văn luôn thoát tục, ẩn hiện cái hào khí cao ngất của đấng trượng phu.Với Hoàng phủ ngọc Tường,chỉ riêng cái tựa của thi tập và ý thơ trong bài ‘ Ðùa chơi’ nhiều lúc người đọc, nếu không biết trước Y là tên phản tặc, gian ác, đem một phần đời và cả danh gía của dòng họ tôn quý vùi dưới bùn nhơ, khi nhẩn tâm theo lệnh VC tàn sát dân chúng vô tội., rất dễ bị lầm lạc, vì qua ý thơ, cứ ngở đây là một cao tăng, một thánh nhân hay ít ra cũng thuộc kẽ sĩ ngẩnmặt nhìn trời : ‘ Ta tìm lại trong hình hài hóa bướm, Chút tự do quả thực trên đời Rũ sạch hết đam mê hoang tưởng Núi thông nhiều, ta hãy rong chơi ‘ Ðọc đoạn thơ ngắn trên mới thấy lạ, và càng ngớ ngẩn với câu chút tự do quả thực trên đời’ như vậy cả một quảng đời từ năm 1963 cho tới 1975, vì ai mà phải bỏ đời, dấn thân vào con đường man rợ, nón tai bèo , đôi dép râu, AK, mã tấu và cái lưởi không xương lắc léo làm chuyện đổi trắng thay đen ? Ðã làm thì phải nhận, phương chi hành động của mình nay đã thành một tội danh thiên cổ, ngàn đời muơn kiếp, bia miệng bia đời không tha, thì không thể ‘ Rũ sạch hết đam mê hoang tưởng ‘ để thành tiên rong chơi trên núi thông. Hởi ơi chỉ vì chút phù du cuộc đời, mà phải mang mặt nạ phá đời, chẳng riêng đã hại đời mình, mà còn làm cho thế tộc ô danh, nước non tan tác, dân chúng cả nước lầm than khổ lụy ‘ đừng hỏi nửa em ơi, thầy lên đường đánh Mỹ’ trong lúc đó bên cạnh thầy thì đầy rẫy Nga, Tàu, Bắc Hàn, Cu Ba, Ðông Ðức. Có cái ngang trái vô thường, là nếu như Lê Khắc Quyến, Lê văn Hảo, Lê Tuyên, Nguyễn đắc Xuân và anh em nhà Hoàng Phủ.. vì thuộc loại dân chúng bị chế độ VNCH đè ép phải sống cùng khổ mất tự do, nên mới theo VC để may ra xoay bạch ốc thành lâu đài, ném thanh y tìm gấm vóc, cái này ai nấy đều ở trên mức thượng thừa,vậy thì làm giặc để làm gì đến giờ này một chút tự do cho mình, cho đời vẫn chưa có, Năm 1971, khi mà chiến trường mền nam bước vào giai đoạn tàn khốc, Hà Nội cần máu xương thanh niên nam nử để đốt rụi Trường Sơn, mở lối vào Nam, nên cũng cần tung hê một số phản tặc của VNCH đã chạy theo, vì vậy mới phong cho Hoàng phủ Ngọc Tường lên chức nhà thơ VC và cho đài phát thanh phổ biến bài thơ ‘ Tôi đi trên những con đường rừng củ ‘cũng nhờ vậy mà Tường đã lọt vào mắt xanh của Lâm Thị Mỹ Dạ, cùng khóa với Dương Thu Hương tại trường viết van Nguyễn Du ở Hà Nội năm 1972.: ‘ Hai mươi năm dài trên trán mẹ Những con đường rừng vẽ nét ưu tư ‘ Thơ hay, đáng tiêu biểu cho một con người , đúng ra là một cái xác biết đi, sống như đã chết vì :’ hai mươi năm biết ai còn nhớ ? nhưng từ đó cây hoang rừng già ‘ Ðó mới là nổi khô của một đời người, người ta quên thì mình tiếc, người ta nhớ mình sợ, đăm chiêu, nghẹn nghẹn sống làm sao nổi đây hởi trời ? Quả thật suốt phần đời còn lại, Hoàng Phủ ngọc Tường, không bao giờ thoát nổi ám ảnh của tội lỗi một thời gây ra, đâu cũng là một địa chỉ buồn, nời nào cũng gặp cố nhân, những người mà Hoàng phủ ngọc Tường trong một phút phù du, đưa họ về bên kia thế giới : Những chiền bến Ngự dâng mưa Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi Tôi ra mở cửa đón người Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang .’ Tất cà giờ chỉ còn lại bóng tối, thời gian để hoa phù dung tàn lụn, tất cả cũng đã cạn tàu khi cái sân si biến vụt vào cõi không không. Hoàng phủ ngọc Tường luôn nuôi ảo tưởng hảo huyền là lưu lại với đời tuổi tên, nhưng tiếc thay lầm đường lạc nẽo, theo kẻ ác làm ác, rốt cục một mình thui thủi đi về trong cỏi phu du, sám hối cho tới chết vẫn chưa yên hồn . XB cuối đông -2002 Mường Giang |