Thua trận, nhưng thắng cuộc chiến

Scott Van Wynsberghe, National Post
31/01/2008

Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân của Hồ Chí Minh -- bắt đầu vào ngày hôm nay cách đây 40 năm – là một sự thảm bại hoàn toàn cho cộng sản. Nhưng đó không phải là điều mà nhiều người trong chúng ta nhớ về biến cố này.

1.
Họ đến vào lúc ban đêm, có đến hàng chục ngàn. Trong những giờ phút đầu tiên của ngày 31/01/1968 -- một ngày sau ngày đầu năm âm lịch Việt Nam, hoặc “Tết” – Các cán binh cộng sản chiếm đóng hàng trăm thị xã và thành phố của cái mà lúc bấy giờ là Nam Việt Nam . Bốn mươi năm sau, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân (như sau đó đã được gọi), vẫn được xếp hạng là một trong những vụ mà Hoa Kỳ bị tấn công bất ngờ nhất. Ðánh dấu bằng mức độ tàn nhẫn và vài sự quay cuồng của định mệnh, cuộc tổng tấn công này đã đưa Hoa Kỳ vào con đường thất bại tại Việt Nam.

Trước năm 1968, lịch sử đã đè nặng sẵn trên cuộc chiến Việt Nam. Cuộc chiến này một phần được tiếp tục từ cuộc chiến trước đó, nguyên là một nỗ lực bị thất bại của người Pháp trong thời gian 1945-1954 để duy trì Việt Nam như là một thuộc địa. Người Pháp đã bị đánh bại bởi một cuộc vùng dậy của cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo, nhưng cái hiệp định hoà bình theo sau đó chỉ đưa có một nửa phần đất nước thuộc miền bắc cho ông Hồ, người nắm quyền kiểm soát tại thành phố chính là Hà Nội. Tại miền Nam, một phần riêng biệt, quốc gia do Hoa Kỳ yểm trợ được ra đời với thủ đô là Sài Gòn.

Thời kỳ đầu thập niên 1960s, một cuộc chiến tranh du kích được tái lập đã bùng nổ ra tại miền Nam dưới cái bảng hiệu của Mặt trận Giải Phóng (MTGP). MTGP do cộng sản kiểm soát được miền Bắc ủng hộ, và các thành viên của MTGP thường được gọi là “Việt cộng” (VC, cộng sản Việt Nam). Ðể chống đỡ lại bọn VC, Hoa Kỳ đã cung cấp vũ khí và cố vấn cho miền Nam, nhưng cảm thấy bắt buộc phải đưa quân vào tham chiến vào năm 1965. Bắc Việt cũng chạy theo với đà gia tăng như chong chóng và đưa bộ đội của họ vào miền Nam, với con số càng ngày càng gia tăng.

Trong đêm giao thừa, theo ký giả Don Oberdorfer, thì Hoa Kỳ có quân số là 492,000 người tại miền Nam, trong khi phía miền Nam đã động viên (ít nhất là trên giấy tờ) 626,000 quân hiện dịch và lực lượng bán quân sự. Số quân của VC và Bắc Việt có vẻ như là không được biết là bao nhiêu ở bên ngoài Hà Nội, là nơi mà các văn khố quốc gia bị kiểm soát rất chặt chẽ. (Có một văn khố đã được mở vào năm 1998, nhưng không chứa đựng một tài liệu quân sự nào). Sử gia James Wirtz đã ghi lại về ước lượng sức mạnh quân sự của phe cộng sản từ 236,000 đến 580,000 quân, nhưng cá nhân ông chọn con số 300,000. Bao nhiêu trong con số này đã trực tiếp tham dự vào các cuộc tấn công thì không được rõ, với nhiều ước đoán là giữa con số 58,000 và 85,000.

Thêm vào đó, điều mà Hà Nội dự tính để đạt được mục đích trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân thì còn mù mờ. Nhiều bình luận gia Tây phương thường quyết đoán rằng mục đích tối hậu của Hà Nội là chiếm đóng các khu trung tâm thị tứ và gây ra sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn. Trái ngược lại điều trên, nhà quân sử Cecil Currey đã lập luận rằng người cầm đầu quân đội Bắc Việt là Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghét toàn bộ cái kế hoạch này và do đó, kế hoạch đã phải đưa ra thi hành bởi Hồ Chí Minh và những kẻ thuộc hạ. Một học giả người Singapore, ông Ang Cheng Guan, viết trong một quyển sách vào năm 2000, cho rằng đa số giới quân sự Bắc Việt đã gạt bỏ điều mà nhiều đảng viên cộng sản trung ương tin tưởng rằng một cuộc cách mạng vùng lên của quần chúng sẽ có thể bùng nổ ra tại các thị xã và thành phố. Ông Ang cũng chỉ ra cho thấy rằng đến năm 1968 thì Hồ Chí Minh rõ ràng là đã bị kiệt quệ (ông Hồ chết năm 1969), để lại cái khả năng là cuộc tổng tấn công chỉ là một màn kịch lớn, cuối cùng cho một ông già sắp chết.

Cho dù là vì mục đích gì đi nữa, kết quả của cuộc tấn công là một trận tắm máu dành cho phe tấn công, mặc dù có yếu tố bất ngờ. Giới quân sự Hoa Kỳ đã liệt kê 32,000 xác địch quân và gần 6,000 tù binh trong thời gian ngắn hơn 2 tuần lễ. Ông Stanley Karnow, người đã phỏng vấn nhiều cựu chiến binh VC còn đang cay đắng tại Việt Nam, đã xác nhận rằng sự thiệt hại (của phía VC) rất lớn. (Vào năm 1982, tướng VC Trần Văn Trà đã viết một quyển sách chỉ trích cuộc tổng tấn công, và chế độ Hà Nội đã nhanh chóng cấm đoán quyển sách). Cũng trong cùng thời gian thì phe tự vệ chỉ thiệt hại 3000 nhân mạng, trong đó có 1000 lính Mỹ.

2.
Bởi vì trận chiến xảy ra trong những khu vực dân cư đông đảo, nên sự thiệt hại nhân mạng của thường dân đã rất lớn: trên 12,000 thiệt mạng, 22,000 bị thương và gần 1 triệu người bị lâm vào tình trạng vô gia cư.

Chỉ duy nhất có một trường hợp cộng sản đã chiếm trọn vẹn một thành phố, đó là thành phố Huế. Trong trận chiến kéo dài cả một tháng để tái chiếm lại Huế, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã khám phá ra một hầm lộ thiên trong đó chứa khoảng 100 xác chết của thường dân, hình như là đã bị hành quyết. Trong nhiều tháng sau đó, thêm 18 ngôi mộ tập thể khác được tìm thấy, và con số tử vong lên đến khoảng 2,800 được xác nhận vào năm 1970.

Từ lúc đầu thì không có một sự nghi ngờ nào về việc Việt cộng tại Huế đã giết chết bất cứ ai mà chúng không thích, nhưng sự chối bỏ đã xuất hiện trong những thành phần bênh vực cho chúng. Thí dụ như vào năm 1969, một bài báo của D. Gareth Porter và Len Ackland đã bào chữa rằng các vụ giết người đã xảy ra chỉ là kết quả của sự vô kỷ luật vào giây phút cuối cùng trước khi bọn VC bị đẩy ra khỏi thành phố. Một thập niên sau, Noam Chomsky và Edward S. Herman đã lập lại giả thuyết của Porter-Ackland, và chấp nhận một cách khó chịu rằng chỉ có 700 người bị VC giết.

Những kẻ bênh vực (cho VC) đã không có cơ sở nào. Oberdorfer đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn tại Huế cho cuốn sách của ông ta năm 1971 về Tết Mậu Thân, và trở ra với một bản tường trình rất kỹ lưỡng về các vụ hành quyết có chủ ý đã liên tục xảy ra hàng tuần lễ. Nhiều năm sau đó, Karnow bị thuyết phục bởi các bằng chứng sẵn có nên ông ta đã tuyên bố, “Dung hòa những bản báo cáo, tường trình đã cho thấy rõ ràng rằng việc cộng sản thảm sát tại Huế đã xảy ra – có lẽ là còn ở một mức độ cao hơn cái mức độ như đã được tường thuật trong thời kỳ chiến tranh.”

Cả hai Oberdorfer và Karnow đều đồng ý rằng đội hành quyết của miền Nam cũng hoạt động tại Huế, để loại bỏ bất cứ kẻ nào hợp tác với VC trong thời gian chiếm đóng. Những chi tiết như vậy đưa chúng ta đến vụ giết người nổi tiếng nhất trong toàn bộ vụ tổng tấn công: tóm tắt lại vụ hành quyết một kẻ mặc đồ dân sự bị tình nghi là VC trên đường phố Sài Gòn của chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan, tư lệnh Cảnh sát Quốc gia.

Ông Loan bắn kẻ bị bắt trước sự hiện diện của phóng viên Eddie Adams thuộc hãng thông tấn Associated Press (AP) và một toán thu hình của đài truyền hình NBC-TV, vì thế, hành động của ông Loan đã trở nên xấu xa. Kẻ bị hành quyết chưa bao giờ được xác định lý lịch cho chắc chắn. Ông Loan sau đó cho ký giả Tom Buckley biết, “Tên nó là Nguyễn Tấn Ðạt, bí danh Han Son,” là một đặc công VC. Nhưng ký gỉa Buckley cũng được nghe một lời giải thích từ phó tổng tống miền Nam là Nguyễn Cao Kỳ cho biết rằng người bị bắn chết thật ra là “dân sự, một chính trị viên” của VC và là “một nhân vật rất cao cấp”. (Ông Kỳ đã không nêu ra tên tuổi)

Với sự khủng khiếp từ mọi phía, và cộng sản đang tấn công khắp nơi, thì công luận Hoa Kỳ thật sự ra đã lên tiếng được có một chút xíu. Ông Karnow và Robert Dallek, là người viết hồi ký cho Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Lyndon Johnson, mỗi người đều ghi nhận rằng những cuộc trưng cầu ý kiến trong thời gian của vụ tổng tấn công, đã cho thấy có gia tăng chút ít trong sự ủng hộ đối với sự không ủng hộ cho cuộc chiến. Trên phân nửa số người được hỏi ý kiến muốn thấy có thêm những hành động quân sự, kể cả việc có thể có rủi ro là sẽ đụng độ Trung cộng lẫn Nga sô.

3.
Nhưng điều đó đã không xảy ra, và lý do tại sao thì không được rõ.

Karnow mô tả Tòa Bạch Ốc vào đầu năm 1968 là một nơi mà các giới chức thẩm quyền khác nhau đã lôi kéo TT Johnson tới lui về vấn đề Việt Nam. Karnow cho rằng những kẻ không ưa cuộc chiến đã thắng. Nhưng Dallek thì lại diễn tả TT Johnson như một người đã chán ngán với cuộc chiến đến nỗi ông không thể ngủ yên giấc lúc ban đêm, và ngay cả việc đã khóc ít nhất là trong một buổi họp.

Theo Dallek thì TT Johnson đã muốn từ bỏ cuộc chiến. Ngay cả khi trước cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, vào tháng 11/1967, ông đã thông báo tạm ngưng việc thay thế tổng trưởng quốc phòng Robert McNamara.. Người thay thế McNamara vào cuối tháng 2/1968 là Clark Clifford, được biết là đã quay ngược lại cuộc chiến. Rồi vào ngày 23/3, TT. Johnson lại thay thế tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, tướng William Westmoreland. Cuối cùng vào ngày 31/3, TT. Johnson tuyên bố rằng ông sẽ tạm thời ngưng lại việc không tập Bắc Việt, để mở cửa cho việc đàm phán hoà bình với Hà Nội và không có ý định ra tái ứng cử. (năm 1968 là năm bầu cử tổng thống)

Cuộc chiến kéo dài thêm nhiều năm nữa, nhưng vai trò của Hoa Kỳ trong chiến tranh từ từ thuyên giảm dần. Và cho đến khi phía cộng sản chiếm được Sài Gòn vào năm 1975, thì việc thảm bại của họ trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân được coi như là một bước trên con đường thắng lợi cuối cùng

Losing the battle, winning the war

Ho Chi Minh's Tet offensive--begun on this day 40 years ago-- was a fiasco for the Communists. But that's not how many of us remember it
Scott Van Wynsberghe, National Post Published: Thursday, January 31, 2008

1.
They came in the night, by the tens of thousands. In the first hours of Jan. 31, 1968 -- one day into the Vietnamese lunar New Year, or "Tet" --Communist fighters invaded over a hundred towns and cities of what was then South Vietnam. Forty years later, the Tet Offensive (as it came to be called) still ranks as one of the great surprise attacks suffered by the United States. Marked by atrocity and odd twists of fate, it set America on the road to defeat in Vietnam.

Prior to 1968, history already lay heavily on the Vietnam War. The war partly continued an earlier conflict, the doomed effort by the French during 1945-1954 to maintain Vietnam as an imperial possession. The French were defeated by a Communist insurgency led by one Ho Chi Minh, but the eventual peace agreement turned over only the northern half of the country to Ho, who took control in the main city, Hanoi. In the South, a separate, U.S.-backed state came into existence, with its capital at Saigon.

By the start of the 1960s, renewed guerrilla war flared in the South under the banner of the National Liberation Front (NLF). The NLF was dominated by Communists supported by North Vietnam, and its members were often called "Viet Cong" (Vietnamese Communists). To counter the VC, the U.S. supplied the South with arms and advisers, but felt compelled to commit major combat formations in 1965. North Vietnam kept up with the escalatory spiral and put its own troops in the South, in growing numbers.

On the eve of Tet, according to journalist Don Oberdorfer, the United States had 492,000 military personnel in place, while the South Vietnamese deployed (at least on paper) 626,000 regulars and militia members. VC and North Vietnamese numbers seem unknown outside of Hanoi, where archives are tightly controlled. (One was opened in 1998, but it contained no military material.) Historian James Wirtz has noted estimates of Communist strength ranging from about 236,000 to 580,000 but himself opts for about 300,000. How many of them took part in the attacks is also unclear, with guesses straddling 58,000-85,000.

What Hanoi intended to achieve in the Tet Offensive is likewise murky. Western writers have often assumed that the maximum goal was to capture urban centres and cause the Saigon government to collapse. By contrast, military historian Cecil Currey has argued that the head of the North Vietnamese military, General Vo Nguyen Giap, hated the whole plan and was forced into carrying it out by Ho Chi Minh and others. Ang Cheng Guan, a Singaporean scholar, claimed in a 2002 book that much of the North Vietnamese military dismissed the belief of many Communist party officials that a popular revolt could be sparked in towns and cities. Ang also pointed out that Ho Chi Minh was visibly fading by 1968 (he died in 1969), leaving the possibility that the offensive was just one big, last show for the old man.

Whatever the aims, the result was a bloodbath for the attackers, despite the element of surprise. The U.S. military claimed 32,000 enemy dead and almost 6,000 captured in less than two weeks. Stanley Karnow, who interviewed several embittered VC veterans in Vietnam, confirmed that the losses were huge. (In 1982, Vietnamese General Tran Van Tra issued a book criticizing the offensive, and Hanoi quickly banned it.) In the same period, the defenders suffered only about 3,000 deaths, including 1,000 Americans.

2.
Because the fighting occurred in dense, residential areas, civilian losses were great: over 12,000 dead, 22,000 injured and nearly a million homeless.

In only one case did the Communists seize an entire city, and that was at Hue. During the month-long battle to retake that place, U.S. Marines discovered an open pit containing the bodies of about a hundred civilians who seemed to have been executed. In the months to come, 18 more mass graves would be found, and the toll would reach some 2,800 confirmed dead by 1970.

From the beginning, there was no doubt that the Viet Cong in Hue had slaughtered anyone they did not like, but denial set in among their apologists. In 1969, for instance, an article by D. Gareth Porter and Len Ackland argued that whatever murders occurred were just the result of a last-minute loss of discipline before the VC were ejected from the city. A decade later, Noam Chomsky and Edward S. Herman reiterated the Porter-Ackland thesis, and grudgingly conceded only 700 killings.

The apologists have no grounds. Oberdorfer conducted many interviews in Hue for his 1971 book on Tet, and came away with a thorough account of deliberate executions that went on for weeks. Years later, Karnow was so convinced by the available evidence that he declared, "Balanced accounts have made it clear that the Communist butchery in Hue did take place -- perhaps on an even larger scale than reported during the war."

Both Oberdorfer and Karnow contend that South Vietnamese death squads were also active at Hue, eliminating anyone who collaborated with the VC during the occupation. Details like that bring us to the best-known killing of the entire offensive: the summary execution on a Saigon street of a non-uniformed VC suspect by the chief of the South Vietnamese national police, Brigadier-General Nguyen Ngoc Loan.

Loan shot his captive in the presence of an Associated Press photographer, Eddie Adams, and an NBC-TV camera team, so his act became infamous. The executed man has never been identified for certain. Loan later told journalist Tom Buckley, "His name was Nguyen Tan Dat, alias Han Son," a VC commando. Buckley also heard, however, a claim from South Vietnamese vice-president Nguyen Cao Ky that the dead man was actually "civilian, a political officer" of the VC and "a very high-ranking" figure. (Ky did not name him.)

With horrors on all sides, and Communists attacking everywhere, the American public actually rallied a bit. Karnow and Robert Dallek, a biographer of then-U.S. president Lyndon Johnson, have each noted that U.S. polling during the offensive registered a brief uptick in the hither-to-declining support for the war. Over half of respondents wanted to see greater military action, even at the risk of confronting China and Russia.

3.
But that did not happen, and the reason why is unclear.

Karnow portrays the White House in early 1968 as a place where various officials tugged Johnson back and forth over Vietnam. Those who disliked the war, he contends, won. Dallek, however, depicts Johnson as a man so sick of the war that he could no longer sleep at night, and even cried during at least one meeting.

Johnson, Dallek thinks, already wanted out. Even before the Tet Offensive, in November, 1967, he announced the impending replacement of his defence secretary, Robert McNamara. Clark Clifford, the man who took over at the end of February, 1968, was known to have turned against the war. Then, on March 23, Johnson replaced the U.S. military commander in Vietnam, General William Westmoreland. Finally, on March 31, he declared he would suspend air raids against most of North Vietnam, open peace talks with Hanoi and not seek re-election (1968 being an election year).

Fighting would drag on for years, but the U.S. role in the war gradually dwindled. And by the time the Communists took Saigon in 1975, their defeat at Tet instead came to be seen as step on the path to ultimate victory.

dnumehob@hotmail.com - Scott Van Wynsberghe lives in Winnipeg.
http://www.nationalpost.com/opinion/story.html?id=275434&p=1