Luận Cứ Bào Chữa Cho Phan Văn Sào
bị truy tố tội vu khống

26/08/2008

Lời giới thiệu:

Anh Phan Văn Sào- Một người dân bình thường ở ấp Long Đại, xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, Tây Ninh đã dám làm đơn tố cáo người nhà của một số cán bộ xã Long Thành Bắc lấn chiếm đất công. Anh Phan Văn Sào bị VKSND huyện Hòa Thành truy tố về hành vi “vu khống” theo Điều 122 BLHS nước CHXHCN Việt Nam.

Được sự đồng ý của Thạc sĩ Lê Trần Luật, CL&ST đăng lại toàn văn bài Luận cứ bào chữa cho anh Phan Văn Sào. Bản Luận cứ bào chữa này đã được Luật sư Lê Trần Luật trình bày tại phiên tòa sơ thẩm lúc 9 giờ ngày 26/8/2008 tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO PHAN VĂN SÀO
BỊ VKSND HUYỆN HÒA THÀNH (TÂY NINH) TRUY TỐ
VỀ TỘI “VU KHỐNG”

Tôi, Luật sư Lê Trần Luật, được TAND huyện Hòa Thành chấp thuận bào chữa cho anh Phan Văn Sào, người bị VKSND huyện Hòa Thành truy tố về hành vi “vu khống” theo Điều 122 BLHS.

Theo Cáo trạng và quan điểm VKS, anh Phan Văn Sào đã tố cáo một số cá nhân và tổ chức đã “thiếu tinh thần trách nhiệm, lạm dụng chức vụ quyền hạn bao che cho người thân trong gia đình là ông Phan Văn Ràng lấn chiếm đất của vợ chồng ông Nguyễn Thanh Long, bà Phan Thị Vui lấn chiếm đất trường Mẫu giáo Long Thành Bắc”. Cáo trạng đã căn cứ vào Báo cáo kết luận số 01/BC-XKT ngày 28/11/2007 của Thanh Tra huyện Hòa Thành để cho rằng không có hành vi lấn đất xảy ra và việc tố cáo của anh Phan Văn Sào là sai sự thật.

Thưa HĐXX!

1- Trước hết, về mặt hình thức thì báo cáo kết luận của Thanh Tra huyện Hòa Thành không phải là cơ sở pháp lý để khẳng định sự thật của vụ án,

Đây chỉ là tài liệu có tính chất tham khảo. Vì vậy tôi đề nghị VKS hãy cùng tôi làm sáng tỏ kết luận của Thanh tra có đúng sự thật khách quan hay không? VKS cần phải đưa ra tài liệu chứng cứ chứng minh rằng: Kết luận của thanh tra huyện Hòa Thành là đúng với hiện thực khách quan. Có như thế mới có thể khẳng định anh Phan Văn Sào nói sai sự thật, bịa đặt sự thật nhằm vu khống.

Ngay trong hồ sơ vụ án thì các tài liệu chứng cứ đã rõ ràng rằng các nội dung tố cáo của anh Phan Văn Sào là hoàn toàn đúng sự thật. Hiện thực của hai khu đất mà anh Sào tố cáo vẫn còn nguyên trạng, việc xác minh sự thật là hết sức dễ dàng.

Trong trường hợp VKS xét thấy cần thiết thì xin phép HĐXX hoãn phiên tòa để cùng tôi đến hiện trường khu đất, thì dể dàng thấy ngay rằng lời tố cáo của anh Sào đều chính xác đến từng mét vuông.

2- Tôi sẽ chứng minh cho HĐXX và VKS thấy thực tế trường Mẫu giáo Long Thành Bắc đã bị mất 1 phần diện tích đất:

Tôi nhấn mạnh rằng, từ năm 1979 đất của bà Huệ đã cho UBND xã Long Thành Bắc mượn, bà Huệ cùng gia đình chuyển sang sinh sống ở mảnh đất khác (ô 7) nên quyền quản lý khu đất cho mượn này là UBND xã Long Thành Bắc. Thanh tra huyện cũng như Cơ quan điều tra huyện Hòa Thành đã cố tình điều tra chệch sang một hướng khác là chứng minh bà Vui không tranh chấp ranh đất với bà Huệ là hết sức vô lý, vì bà Huệ có sử dụng, quản lý đất đó đâu mà tranh chấp.

Mặt khác, anh Sào tố cáo là tố cáo việc chiếm giữ đất công thuộc sự quản lý của UBND Huyện Hòa Thành, hoàn toàn không đề cập đến việc có tranh chấp hay không?

Cơ quan điều tra, VKS đã bỏ qua những chứng cứ chứng minh rằng đất của bà Huệ trong thời gian cho UBND xã mượn đã bị lấn chiếm với diện tích hơn 200m2, bằng cách không quan tâm gì đến các lời khai bà Năm, bà Nghĩa, bà Huệ, không ghi lời khai bà Trấn (là người bán đất năm 1974 cho bà Huệ), bỏ qua tờ bản đồ được phê duyệt năm 1991 có diện tích lớn hơn diện tích hiện tại để kết luận rằng diện tích đất của trường Mẫu giáo còn nguyên vẹn là kết luận không khách quan, không chính xác.

** Cụ thể, Cáo trạng đã bỏ qua những chứng cứ chứng minh tố cáo của anh Phan Văn Sào là đúng như sau:

- Giấy tay bán đất năm 1971 của vợ chồng Phan Văn Luông, Nguyễn Thị Năm cho bà Huệ miếng đất tọa lạc tại Hương Đạo Trường Thạnh, diện tích ban đầu cũng ghi là 25 x 30 nhưng sau đó sửa lại thành 17 x 30 vì riêng diện tích 17x30m này có nguồn gốc là ông Luông, bà Nam đã được Hội Thánh cho, khi bán phải làm giấy xin phép Hội Thánh, nên phần đất riêng của ông Luông, bà Năm không được ghi trong giấy này. Nhưng không phải vì vậy mà bác bỏ một thực tế là bà Huỳnh Thị Kim Huệ đã mua từ vợ chồng ông Luông, bà Năm diện tích đất (25 x 30)m = 750m2 (Lời khai của Nguyễn Thị Năm, Nguyễn Thị Nghĩa-hàng xóm, Huỳnh Thị Kim Huệ, BL 135, 136, 137, 142).

- Năm 1974, bà Huệ mua thêm diện tích (8 x 30)m = 240m2 của Nguyễn Thị Trấn cũng tọa lạc tại Hương đạo Trường Thạnh. (BL 139)

Như vậy, tổng diện tích đất bà Huệ là chủ sở hữu đến thời điểm năm 1974 là 990m2. Nếu trừ lộ giới vào 3m thì còn lại (25 x 27) + (8 x 27) = 891m2. Phù hợp với Tờ bản đồ lưới số 06, đo đạc theo Chỉ thị 299, phê duyệt ngày 6/4/1991 thể hiện: thửa số 1478 diện tích 845m2 là đất bà Huệ khi chưa chính thức hiến làm trường Mẫu giáo (BL 158).

- Năm 1979 bà Huệ cho UBND xã Long Thành Bắc mượn diện tích đất này làm trường Mẫu giáo, vợ chồng bà chuyển qua ở ấp Long Đại (Báo cáo kết luận Thanh tra huyện Hòa Thành, BL 65) nên trong thực tế từ năm 1979 bà Huệ đã không hề quản lý, sử dụng diện tích này mà do UBND xã Long Thành Bắc quản lý cho đến nay.

- Tờ bản đồ lưới số 16 (hiện hành, sau năm 2003), thể hiện thửa số 148 (tương ứng thửa số 1478) diện tích giảm xuống còn 612,6m2. (BL 157)

Do đó, căn cứ vào bản đồ thì sau 2 lần đo vẽ lại bà Huệ bị mất 232,4m2.

Tôi xin hỏi VKS 232,4m2 đất này nếu không bị lấn chiếm thì diện tích này bị mất đi đâu?

- Báo cáo kết luận số 01/BC-XKT ngày 28/11/2007 của Thanh Tra huyện Hòa Thành thừa nhận diện tích đất của bà Huệ là 612,9m2 được chia 2 phần: phần trường Mẫu giáo là 396,9m2, phần chia cho ông Minh (con bà Huệ) là 216m2. (Đã trừ lộ giới). (BL 65)

- Căn cứ vào giấy tờ viết tay mua bán năm 1971, 1974 và Báo cáo kết luận số 01/BC-XKT thì diện tích đất bà Huệ bị mất là 891m2 - 612,9m2 = 278,1m2. (Đây là diện tích sau khi đã trừ lộ giới).

- Diện tích đất của bà Huệ có vị trí 2 mặt giáp ranh lộ giới và giáp ranh với đất của bà Vui (BL 152). Đất không thể tự nhiên teo lại, cũng không thể tự nhiên nở lớn ra (trừ những trường hợp bị sụp lở hay phù sa bồi đắp). Hai diện tích đất bà Huệ và bà Vui liền kề nhau mà đất bà Huệ tự dưng bị giảm mất diện tích, đương nhiên ai cũng biết là đất phía bà Vui sẽ có thêm diện tích vì lẽ đơn giản là ranh giới đất đã bị thay đổi.

Do đó, anh Phan Văn Sào tố cáo bà Vui lấn chiếm đất Nhà nước là đúng sự thật.

 

.

Thưa HĐXX!

Tại phiên tòa hôm nay nếu anh Phan Văn Sào vẫn bị kết tội vu khống, thì chính tôi - nhân danh là một công dân Việt Nam, sẽ tiếp tục khiếu kiện và tố cáo xem diện tích này đã bị mất đi đâu, ai đang chiếm giữ nó??? Đất đây là đất của cá nhân hiến cho Nhà nước với mong muốn Nhà nước dùng để xây trường cho trẻ em của Huyện Hòa Thành. Tôi rất đau lòng vì có những kẻ không những không hiến đất mà còn cố tình chiếm đoạt tài sản công làm của riêng. Ai đã bao che cho những người này chiếm đoạt phần đất công ấy?

Tôi tự hứa với anh Phan Văn Sào rằng chính tôi sẽ nhân danh là một công dân Việt nam sẽ đấu tranh đến cùng để làm sáng tỏ phần diện tích đất này mất đi đâu? Ai bao che cho người khác chiếm đoạt đất này. Tôi sẽ làm đến cùng để xem các cơ quan tiến hành tố tụng Huyện Hòa Thành có thể bắt giam tôi được hay không!

.

3- Cơ quan tiến hành tố tụng không điều tra việc anh Phan Văn Sào tố cáo ông Phan Văn Ràng cất nhà trái phép lấn đất ông Long và bà Xuyến nhưng lại cho rằng anh Phan Văn Sào vu khống. Đây là một kết luận không có cơ sở nhưng mang tính chụp mũ đối với một công dân có ý thức đấu tranh cho lẽ công bằng:

Trang đầu Cáo trạng số 84/QĐ/KSĐT ngày 15/7/2008 ghi rõ ông Sào “Tố cáo ông Phan Văn Ràng cất nhà trái lấn đất của ông Long và bà Xuyến” (BL 648). Chính cái “nhà trái phép” này khi cất lên lấn chiếm đất người khác nhưng Cơ quan điều tra không hề thu thập hồ sơ cấp phép xây dựng nhà của ông Ràng.

(Bản thống kê tài liệu không có tài liệu điều tra về vụ này. Về lời khai nhân chứng thì anh Phan Văn Sào nói rằng khi cán bộ điều tra Trần Quốc Bình đến nhà các nhân chứng (dân trong xã) xác minh đã cho phép Nguyễn Đăng Tâm đi theo ngồi kế bên, mà Tâm là cán bộ địa chính xã đồng thời là người bị anh Sào tố cáo, như vậy lời khai các nhân chứng này không khách quan).

Duy nhất có 1 biên bản đo đạc ngày 19/10/2007 của Thanh tra huyện kết hợp cán bộ xã Long Thành Bắc lập để đo đất của 7 chủ sử dụng là: Trường Mẫu giáo, bà Phan Thị Vui, bà Thái Thị Trắng, ông Cao La Khánh, ông Phan Văn Ràng, bà Xuyến + ông Long (không ghi rõ họ tên), bà Võ Thị Rạnh thì chỉ có cán bộ lập biên bản và bà Phan Thị Vui ký tên, riêng hộ bà Võ Thị Rạnh ghi thêm vào biên bản: “Tôi Phan Văn Sào có chứng kiến đo đất của gia đình tôi như ghi trên biên bản, còn các phần đất khác tôi không có chứng kiến”. Đo đất nhưng người trực tiếp sử dụng đất lại không được chứng kiến, không được ký tên, cho nên kết quả đo đạc này không khách quan. Mặt khác, anh Phan Văn Sào tố cáo việc ông Ràng xây nhà trái phép lấn đất thì nội dung biên bản không đề cập gì đến vấn đề xây nhà.

Vấn đề anh Phan Văn Sào tố cáo đã không được cơ quan điều tra điều tra làm rõ mà Cơ quan điều tra, VKS đã kết luận anh Phan Văn Sào tố cáo sai và cho rằng anh sào vu khống là sự buộc tội hết sức vô lý, không có cơ sở.

Nếu VKS cho rằng anh Phan Văn Sào vu khống thì VKS phải chứng minh được rằng nhà của ông Phan Văn Ràng đã xây dựng có đầy đủ giấy phép theo quy định. Nếu không có thì hiển nhiên ông Phan Văn Ràng đã xây dựng trái phép và lời tố cáo của anh Phan Văn Sào là hoàn toàn chính xác.

.

4- Các đối tượng trộm cắp ở trong nhà của ông Phụ trong thời gian ông Phụ là chủ nhà:

Theo Cáo trạng, căn hộ Đ206 ấp Long Đại, xã Long Thành Bắc do vợ chồng Phan Văn Phụ là chủ sở hữu, từ năm 2004 giao lại cho em ông Phụ là Trần Văn Được trông coi, đến ngày 13/8/2008 mới chính thức sang tên cho Trần Văn Được (hộ khẩu số 4716, cấp ngày 13/8/2008).

Như vậy, dù không sinh sống ở đó nhưng ông Phụ vẫn là chủ nhà, là chủ hộ cho đến ngày 13/8/2008, thì quyền quyết định cho ai được ở trong nhà này vẫn là quyền của ông Phụ.

Cáo trạng cho rằng Trần Văn Được (em ruột ông Phụ) là “đối tượng trộm cắp đã bị Công an huyện Hòa Thành khởi tố bị can số 159 ngày 27/11/2007 và ra Lệnh bắt tạm giam số 20 ngày 27/11/2007” nhưng thực tế vào thời điểm anh Phan Văn Sào tố cáo thì Trần Văn Được vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật, chưa hề bị bắt giam ngày nào, thậm chí còn được Công an huyện cấp sổ hộ khẩu mới cho đứng tên chủ hộ (hộ khẩu số 4716, cấp ngày 13/8/2008). Nếu không có ai bao che, dung túng thì liệu Trần Văn Được có được sự ưu ái như vậy không?

Vì vậy, anh Phan Văn Sào nói rằng ông Phụ bao che, chứa chấp đối tượng trộm cắp của công trong nhà Đ206 ấp Long Đại là có căn cứ.

.

5- Có hay không hiện tượng “gia đình trị” ở chính quyền xã Long Thành Bắc?

Theo Cáo trạng, người bị hại trong vụ án này là ông Phan Văn Phụ (Bí thư xã Long Thành Bắc), ông Phan Hoàng Định (Trưởng Ban Quản lý ấp Long Đại), ông Nguyễn Đăng Tâm (cán bộ địa chính xã Long Thành Bắc), bà Phan Thị Kim Phướng (Thư ký Văn phòng UBND xã Long Thành Bắc).

Trong đó, ông Rân và bà Phan Thị Vui là vợ chồng. Ông Phan Hoàng Định, bà Phan Thị Kim Phướng là con ruột của ông Rân và bà Vui. Ông Nguyễn Đăng Tâm là con rể của ông Rân và bà Vui. Đặc biệt, ông Phan Văn Phụ là cháu ruột gọi bà Vui bằng cô, gọi ông Phan Văn Ràng là chú ruột.

Mặc dù cáo trạng liệt kê riêng từng bị hại, nhưng ông Phụ, ông Định, ông Tâm, bà Phướng đều cùng gia đình với bà Vui nên anh Phan Văn Sào tố cáo là tố cáo chung cả nhóm 4 người trong gia đình cùng bao che cho bà Vui lấn đất trường Mẫu giáo. Vì vậy, không thể tách 1 hành vi tố cáo 4 người thành 4 hành vi riêng đối với từng người bị hại.

Từ những việc làm khuất tất đã nêu trên, cộng với mối quan hệ “dây mơ rễ má” chằng chịt giữa những người đang công tác trong chính quyền xã Long Thành Bắc và bà Phan Thị Vui, ông Phan Văn Ràng, đương nhiên, ai ở trong hoàn cảnh dân đen dám tố cáo cán bộ như anh Phan Văn Sào cũng đều phải nghĩ rằng có hiện tượng “gia đình trị” ở chính quyền xã Long Thành Bắc để bao che cho sai phạm là hoàn toàn có cơ sở.

.

6- Chính quyền xã Long Thành Bắc không phải là người bị hại được quy định tại Điều 122 BLHS:

Điều 122 BLHS quy định người hại của tội này là “người khác”, tức cá nhân, không phải cơ quan tổ chức. Trong khi đó, chính quyền xã Long Thành Bắc là 1 cơ quan hành chính Nhà nước. Vì vậy, Cáo trạng cho rằng anh Phan Văn Sào có hành vi “Vu khống chính quyền xã Long Thành Bắc” là cáo buộc không có cơ sở pháp lý, không đủ yếu tố cấu thành tội. Cáo buộc này chứng tỏ sự hằn học, trả thù của cơ quan chính quyền đối với người tố cáo nhiều hơn là thực thi công lý.

Là một cơ quan thực thi quyền công tố lẽ ra VKS phải hiểu chính xác nội dung của điều Luật. Bản thân VKS không biết “người bị hại” trong “tội phạm vu khống” là như thế nào thì làm sao có thể nhân danh nhà nước làm nhiệm vụ công tố được?

.

7- Cơ quan điều tra dùng thủ đoạn trấn áp tinh thần người tố cáo:

Toàn bộ hồ sơ vụ án từ lúc anh Phan Văn Sào gởi đơn tố cáo cho đến ngày anh Sào bị bắt không có tài liệu nào cho thấy anh Sào có hành vi, cử chỉ bất thường, mà anh Sào chỉ thực hiện quyền khiếu nại tố cáo của công dân được pháp luật cho phép.

Ngày 02/4/2008 Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ngày 04/5/2008 ra Quyết định trưng cầu giám định, ngày 8/5/2008 thi hành lệnh bắt tạm giam, ngày 9/5/2008 đã chuyển anh Phan Văn Sào cho Bệnh viện Tâm thần phía Nam. Ngoài Quyết định trưng cầu giám định số 58/QĐ ngày 04/5/2008 (BL50) và chính nạn nhân Phan Văn Sào ra, Cơ quan điều tra không kèm theo Quyết định được bất cứ tài liệu, chứng cứ gì chứng minh anh Phan Văn Sào có biểu hiện lệch lạc, bất thường, tâm thần… để có cơ sở “nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ” là trái với điểm b khoản 2 Điều 155 BLTTHS.

Người bình thường tự dưng bị đưa vào sống chung với người điên, bị điều trị điên thì không điên cũng có thể trở thành điên. May mắn là anh Phan Văn Sào tinh thần, nghị lực vững vàng nên anh vẫn không bị điên.

Rõ ràng, việc ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần vô căn cứ của cơ quan điều tra Công an huyện Hòa Thành đối với anh Phan Văn Sào là thủ đoạn trấn áp, khủng bố tinh thần những ai dám mạnh dạn tố cáo hành vi sai phạm của chính quyền xã Long Thành Bắc mà thôi.

.

8- Về tiền sự của anh Phan Văn Sào:

Cáo trạng cho rằng anh Phan Văn Sào có 1 tiền sự là bị xử phạt theo QĐ số 86/QĐ ngày 9/10/2003 và anh Phan Văn Sào chưa thi hành QĐ này là cáo buộc vô căn cứ. Bởi lẽ ngày 28/6/2004 Chủ tịch UBND xã Long Thành Bắc đã ban hành QĐ số 170/QĐ-UB thu hồi Quyết định 86/QĐ ngày 9/10/2003.

Mặt khác, giả sử QĐ 86/QĐ ngày 9/10/2003 chưa thu hồi nhưng anh Phan Văn Sào không “cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt”, qua 1 năm mà UBND xã không tổ chức thi hành QĐ thì QĐ này cũng quá thời hiệu xử phạt, không còn hiệu lực thi hành.

Căn cứ Điều 10, Điều 11 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì anh Phan Văn Sào không hề có tiền sự như cáo buộc của VKS.

.

Thưa HĐXX!

Từ những lập luận đã trình bày ở trên, có thể tóm tắt lại là vụ án đã không được điều tra một cách khách quan, đúng luật, quá trình điều tra, kiểm sát đã bỏ qua nhiều chứng cứ chứng minh tố cáo của anh Phan Văn Sào là đúng.

Có thể thấy anh Phan Văn Sào là một công dân tốt, với tinh thần trách nhiệm cao đã kiên quyết, dũng cảm tố cáo những hành vi sai trái để bảo vệ tài sản công, đáng lẽ phải được chính quyền địa phương khuyến khích, biểu dương thì lại bị truy tố về tội vu khống với những tài liệu được coi là chứng cứ buộc tội rất sơ sài, không khách quan, thì thử hỏi người dân ai còn dám đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng như Chính phủ vận động nữa?

Tôi kính đề nghị HĐXX tuyên bố anh Phan Văn Sào không phạm tội vu khống.

Xin cảm ơn HĐXX đã lắng nghe tôi trình bày!

Luật sư LÊ TRẦN LUẬT

.
.
.
.
.
.
.
.
Toàn văn bản Cáo trạng