|
LỘT
TRẦN HUYỀN
THOẠI
HỒ CHÍ
MINH (Bài
4)
5.-
HUYỀN THOẠI GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Trong
Tự phán hay Phan
Bội Châu niên biểu, Phan Bội Châu cho biết rằng năm 1920
(canh thân), ông gặp hai nhân vật Liên Xô tại Bắc Kinh là
Grigorij Voitinski và một viên tham tán tòa đại sứ Liên Xô
tại Bắc Kinh. Khi Phan Bội
Châu ngỏ ý muốn nhờ Liên Xô giúp đỡ đưa du học sinh Việt
Nam sang Liên Xô du học, viên tham tán nầy chỉ vẽ cặn kẽ, và
hứa rằng Liên Xô sẽ giúp đỡ tận tình với điều kiện
là phải chấp nhận "...tín ngưỡng
chủ nghĩa cộng sản, học thành rồi về nước tất phải gánh
lấy những việc tuyên truyền chủ nghĩa Lao Nông ... ra sức làm
những sự nghiệp cách mạng."
Viên tham tán nầy yêu cầu Phan Bội Châu dùng tiếng
Anh viết sách kể hết chân tướng người Pháp.
Có thể những đòi hỏi của người Liên Xô về "tín
ngưỡng chủ nghĩa cộng sản"
làm Phan Bội Châu e ngại, nên ông tránh mặt, không gặp lại
người Liên Xô. Phan Bội
Châu giải thích rằng ông không viết được tiếng Anh, nên ông
"không lấy gì trả lại
thịnh ý ấy".(44) Ðây
là một lối nói xã giao, chứ thật ông Phan có thể vượt
qua vấn đề ngôn ngữ bằng cách nhờ những người khác giúp
làm thông ngôn, bằng chứng là Phan Bội Châu không biết tiếng
Nhật, nhưng cũng đã nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu tiếp
xúc với hai chính trị gia Nhật Bản là bá tước Ðại Ôi Trọng
Tín (Okuma Shigenobu) và tử tước Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Ki).
Ngoài ra, giả dụ trong trường hợp Phan Bội Châu thật
lòng muốn tiếp xúc, chắc chắn toà đại sứ Liên Xô tại
Bắc Kinh có những thông ngôn Hoa ngữ, có thể viết bút đàm
với Phan Bội Châu. Ở
đây cần chú ý một điểm là tại Nga, cuộc cách mạng cộng
sản diễn ra vào ngày 7-11-1917.(45)
Ðảng Cộng Sản Liên Xô phải tốn một thời gian từ
1917 đến 1922 để tiêu diệt nhóm Bạch Nga bảo hoàng còn lại
ở trong nước, ổn định tình hình nội bộ, nắm quyền thật vững
chắc, mới bắt đầu bành trướng thế lực ra nước ngoài
vào đầu đầu thập niên 20. Khi
đó, Liên Xô phải đối đầu với các cường quốc Âu Mỹ
đã tiến chiemn các thuộc địa từ thế kỷ 19.
Do đó, nhu cầu vận động các nước thuộc địa nổi lên
tranh đấu chống lại các cường quốc thực dân đang là kẻ
thù của Liên Xô, nằm trong sách lược nầy.
Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc được cộng sản quốc
tế sắp đặt cho qua Liên Xô để thụ huấn trở thành một thứ
"chiến sĩ tiên phong" trong việc truyền bá chủ nghĩa cộng
sản ở Á Châu, và cũng chính từ đó mà Nguyễn Ái Quốc
đã hình thành quyển Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925. Nếu
viên đại diện Liên Xô tại Bắc Kinh yêu cầu Phan Bội Châu
phải chấp nhận "...tín ngưỡng
chủ nghĩa cộng sản, học thành rồi về nước tất phải gánh
lấy những việc tuyên truyền chủ nghĩa Lao Nông ..." thì những người Việt khác theo Ðệ tam Quốc tế Cộng
sản, như Hồ Chí Minh, chắc chắn đều phải làm thế. Ðiều
đó có nghĩa là khi đến Liên Xô đầu năm 1924, Hồ Chí Minh,
lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, chắc chắn phải tuyên
thệ thực hiện những điều nầy mới được Liên Xô chấp
nhận, và cũng có nghĩa là ngay từ đầu, Hồ Chí Minh chịu làm
tay sai cho Liên Xô, biến nước Việt Nam thành một nước cộng
sản chư hầu của Liên Xô, và thực hiện nhiệm vụ quốc tế
cho Liên Xô, nghĩa là kiếm cách đánh phá những địch thủ
của Liên Xôââ. Hồ
Chí Minh và những người cộng sản che giấu rất kỹ điều nầy.
Phải chăng do tâm lý ẩn ức vì cả cha lẫn con đều bị
thất bại trên đường quan lại của Pháp, không xin được vào
học trường Thuộc Ðịa Paris để ra làm quan cho Pháp, mà Hồ
Chí Minh cam tâm làm như thế, để đạt cho được tham vọng
quyền lực mà ông hằng khao khát? Sau
khi làm việc trong phái bộ Borodin tại Trung Hoa, Nguyễn Ái Quốc
không được Ðệ tam quốc tế tín nhiệm nên bị giữ lại ở
Liên Xô một thời gian, từ 1933 đến 1938.
Trước khi thế chiến thứ nhì bùng nổ (1939), tại viễn
đông, Nhật Bản hoành hành mạnh, tranh giành những quyền lợi
của Liên Xô ở Mãn Châu, và Triều Tiên, nhất là từ khi
giới quân phiệt kiểm soát được chính quyền ở Nhật Bản,
và thi hành chính sách bành trướng đế quốc.(46)
Ðệ tam quốc tế cộng sản liền sai Nguyễn Ái Quốc trở
qua Trung Hoa vào đầu năm 1939 nhắm thực hiện những điệp vụ
chống Nhật ở Á Châu. Ðể
thấy rõ bản chất tay sai cộng sản quốc tế của Hồ Chí Minh
và đảng Cộng Sản Việt Nam, xin đọc đoạn sau đây của bộ sử
do chính các tác giả cộng sản Hà Nội viết: "Sau
một thời gian nắm tình hình cách mạng Việt Nam và Ðông Dương,
ngày 10-5-1941, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Hồ Chủ tịch triệu
tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Ðảng Cộng Sản Ðông Dương
lần thứ 8 ở Pắc Bó. Các
đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng
Chí Kiên, cùng một số đại biểu của Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung
Kỳ, và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài đã
tham gia Hội nghị. "Hội
nghị phân tích sâu sắc tình hình thế giới và trong nước, vạch
rõ triển vọng của cuộc chiến tranh thế giới và khẳng định:
Nếu sau Chiến tranh thế giới lần thứ I, xuất hiện nước xã
hội chủ nghĩa đầu tiên là Liên Xô, thì cuộc chiến tranh đế
quốc lần nầy sẽ làm cho cách mạng nhiều nước thành công,
sẽ có thêm nhiều nước xã hội chủ nghĩa ra đời. Ðảng nhấn mạnh phải xem cách mạng Việt Nam như một bộ
phận của cách mạng vô sản thế giới, lúc nầy là một bộ
phận của phong trào dân chủ chống phát xít, đặc biệt là
phải tích cực ủng hộ Liên Xô và cách mạng Trung Quốc."(47) Gần
đây, trong sách Viết cho mẹ &
quốc hội, một đảng viên cao cấp của cộng sản, ông Nguyễn
Văn Trấn tiết lộ rằng tên đảng Lao Ðộng do chính Stalin đặt,(48)
và cũng chính Stalin đã thúc đẩy Hồ Chí Minh thực hiện cuộc
cải cách ruộng đất ngay từ cuộc gặp gỡ năm 1950.(49) Sau đó
Mao Trạch Ðông áp lực, huấn luyện cán bộ, và gởi chuyên
viên sang tổ chức, theo dõi, thi hành cuộc cải cách ruộng đất.(50)
Cuộc cải cách nầy phát khởi năm 1953 đã sát hại hàng
trăm ngàn nông dân ở miền Bắc. Vì
đã mật kết đi theo con đường cộng sản Liên Xô, Hồ Chí
Minh dùng chiêu bài giải phóng đất nước và độc lập dân
tộc để dẫn cuộc chiến tranh chống Pháp thành cuộc chiến
tranh giữa hai thế lực tư bản và cộng sản, lồng trong khung
cảnh nội chiến giữa hai khuynh hướng quốc gia và cộng sản.
Trong cuộc xâm lăng miền Nam từ năm 1960, Lê Duẩn, tổng
bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, đã từng nói:
"Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên
Xô, đánh cho Trung Quốc..."(51) Như
vậy, trước sau như một, Hồ Chí Minh và đảng CSVN luôn luôn
kiên định vai trò "lính đánh thuê" cho Liên Xô và
Trung Quốc bằng xương máu của dân tộc Việt Nam.
Chính Hồ Chí Minh và đảng
CSVN đã dồn các thành phần quốc gia về phía phải kiếm cách
liên kết với Pháp, và sau nầy với Hoa Kỳ, để chận đứng
nạn cộng sản trên đất nước chúng ta, và để khỏi bị cộng
sản Việt Nam tiêu diệt. Với
sự hỗ trợ tích cực của Liên Xô và Trung cộng, cuộc bành
trướng của cộng sản tại Việt Nam có thể chia thành ba giai
đoạn: (1)thiết lập các căn cứ tại Việt bắc từ đầu thập
niên 40 và cướp chính quyền năm 1945; (2) dùng chiêu bài giải
phóng và độc lập để kêu gọi dân chúng chống Pháp, và
chiếm lĩnh một nửa đất nước, từ vĩ tuyến 17 trở ra bằng
hiệp định Genève năm 1954; (3) Hồ Chí Minh và đảng CSVN tiếp tục mở cuộc
chiến tranh xâm lăng miền Nam từ năm 1960 cho đến năm 1975. Khi
chưa chiếm được miền Bắc, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản
Việt Nam đã tổ chức cuộc cải cách ruộng đất.
Cuộc cải cách nầy được tiếp tục năm 1954 cho đến năm
1956, gây kinh hoàng cho nhân dân miền Bắc, giết chết hàng trăm
ngàn người, và nhất làm làm tê liệt mọi sức đối kháng
của người dân, làm hỏng hết các giềng mối luân lý đạo
đức gia đình, con cái tố cha mẹ, vợ chồng tố nhau, anh em tố
nhau, bà con không dám nhìn mặt nhau.
Một sĩ quan cấp tiểu đoàn trưởng quân đội cộng sản
Hà Nội tuyên bố: "Ông ấy [chỉ Hồ Chí
Minh] biến những con người lương thiện thành những con quỷ.
Ông ấy là quỷ vương."(52) Về
phương diện văn hóa, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Cộng Sản
dẹp bỏ hết các tôn giáo, tịch thu hết sách vở cũ, chỉ cho
nhà trường dạy về chủ nghĩa cộng sản, lịch sử cộng sản,
những nhà văn nhà thơ cộng sản.
Ðề thi văn chương ở đại học và trung học chỉ quanh
quẩn những bài thơ của Hồ Chí Minh và Tố Hữu.
Từ năm 1956 đến năm 1958, các văn nghệ sĩ không ca tụng
chế độ cộng sản bị đem ra đấu tố và tù đày trong vụ án
gọi là Nhân văn giai phẩm.
Sau đó, các văn nghệ sĩ muốn sống còn phải im hơi lặng
tiếng, viết theo chỉ thị của đảng.
Cuộc đánh phá các văn nghệ sĩ nầy còn nhắm mục đích
lâu dài là chận trước các tiếng nói đối lập để họ
khỏi cản trở công cuộc
xâm lăng miền Nam. Văn nghệ
sĩ vốn là những người nhạy cảm trước nỗi đau khổ của
đồng bào, nếu để họ tự do ngôn luận, thì khó có thể
thi hành kế hoặch xâm lăng mà không bị họ phát hiện hoặc
phản đối. Về
phương diện kinh tế, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản
gọi là giải phóng, nhưng đã loại bỏ nền kinh tế tự
do, để trói buộc dân Việt vào chính sách kinh tế chỉ huy theo
kiểu Liên Xô và Trung Cộng, tịch thu hết đất đai, dồn nông
dân vào các hợp tác xã nhà nước, quốc hữu hóa các công
ty xí nghiệp của tư nhân. Vì
người dân không được quyền sáng kiến làm ăn sinh sống,
không được tự do kinh doanh, nên nền kinh tế Bắc Việt hoàn
toàn suy sụp và kiệt quệ dưới chế độ cộng sản của Hồ
Chí Minh. Hồ Chí Minh phải nhờ
đến viện trợ của Liên Xô và Trung Cộng.
Người ta kể rằng một cây kim may cũng phải nhờ Trung
Cộng viện trợ. Càng nhờ vả thì càng mất tự do, và phải
trả bằng nguyên vật liệu như than đá, quặng sắt ... mà cho đến nay vẫn còn chưa trả hết. Hồ
Chí Minh và đảng Cộng Sản tiếp tục áp dụng chiêu bài giải
phóng dân tộc với miền Nam sau năm 1954.
Năm 1972, người Hoa Kỳ bắt tay được với Trung Cộng,
thay đổi chiến lược chính trị ở Á Châu, tìm cách rút quân
ra khỏi Việt Nam. Hiệp định
Paris năm 1973 đã đưa Việt
Nam Cộng Hòa vào tư thế lúng túng.
Cộng sản Bắc Việt, với sự hậu thuẫn hùng hậu của
Liên Xô và Trung Cộng, tiến chiếm miền Nam năm 1975.
Những
chính sách áp dụng ở miền Bắc năm 1954 lại được đem ra áp
dụng ở miền Nam. Về tôn
giáo, văn hóa, chính trị, cộng sản buộc miền Nam đi vào quỹ
đạo cộng sản. Về
kinh tế, lần nầy cộng sản trúng vố bở vì từ năm 1954 đến
năm 1975, miền Nam càng ngày càng phồn thịnh, dân chúng giàu
có. Cộng Sản lấy được
16 tấn vàng của kho bạc miền Nam, tịch biên tất cả những nhà
tư sản mà Hà Nội gọi là "mại bản",(53) đổi tiền
nhiều lần để kiểm soát tình hình lưu thông tiền tệ, quốc
doanh tất cả công ty xí nghiệp...
Miền Nam là vựa thóc của đất nước, nhưng dưới chính
sách kinh tế chỉ huy của cộng sản, dân chúng miền Nam đói rách
nghèo khổ cùng cực hơn bao giờ cả. Trong
bản tuyên bố ngày 2-9-1945 mà cộng sản gọi là bản tuyên
ngôn độc lập, Hồ Chí Minh viết: "Chúng
[chỉ thực dân Pháp] lập ra nhà
tù nhiều hơn trường học. Chúng
thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của
ta. Chúng tắm các cuộc khởi
nghĩa của ta trong bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách
ngu dân...Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy,
khiến do dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu
điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ nguyên
liệu. Chúng giữ độc quyền
in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân
ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ngóc đầu lên.
Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn..."(54)
Nay
chúng ta ứng dụng những lời do chính tay Hồ Chí Minh viết, và
từ miệng Hồ Chí Minh đọc, vào chính sách của chế độ cộng
sản ở Việt Nam, như nhà tù nhiều hơn trường học, như quốc
hữu hóa đất đai, công ty xí nghiệp, đánh tư sản ... thì
nghiệm ra rằng "chúng" là cộng sản chứ chẳng ai khác.(55) Do
những thay đổi ở Trung Cộng khi Ðặng Tiểu Bình trở lại cầm
quyền năm 1978 sau khi Mao Trạch Ðông từ trần (1976), do chủ trương
Glasnost (Cởi mở) và Perestroika (Tái cấu trúc) của Gorbachev
khi ông lên làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên Xô năm
1985, do những biến động ở Ðông Âu năm 1989, sự sụp đổ
của đảng Cộng Sản Liên Xô năm 1991, và nhất là do cuộc cách
mạng thông tin liên lạc bằng hệ thống vi tính và mạng lưới
viễn thông quốc tế, đảng Cộng Sản Việt Nam không còn bưng
bít và gò ép được dân chúng nữa, nên bắt buộc đảng
Cộng Sản phải thay đổi về kinh tế, nhưng vẫn độc tôn về
chính trị. Khẩu hiệu
"Chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc" trước
đây trong thời chiến tranh, nay trở thành khôi hài với dân
chúng và mỉa mai đối với những người đã chết trong cuộc
chiến vì khẩu hiệu nầy, khi nhà cầm quyền Hà Nội tha thiết
mong mỏi Hoa Kỳ trở lại Việt Nam vào giữa thập niên 90. Theo
nghĩa tầm nguyên, giải phóng là cởi mở ra cho tự do, nghĩa
là đưa một cái gì từ tình trạng bị giam hãm kềm kẹp đến
tình trạng được thoát ly và tự do, tức từ chỗ xấu đến
tốt hơn. Ðàng nầy, với
đảng CSVN, giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước có
nghĩa là biến Việt Nam thành chư hầu của Liên Xô, Trung Quốc,
nô lệ hóa dân chúng Việt Nam theo tín điều cộng sản, đặt
nhân dân Việt Nam dưới chế độ độc tài, độc đảng, bóc
lột, phá hoại, đầy ải và bần cùng hóa nhân dân một cách
có hệ thống, có bài bản của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản
Việt Nam. Trong
lịch sử Việt Nam, khác với những cuộc chiến tranh giải phóng
trước đây, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản là trường hợp
đầu tiên và duy nhất đã lợi dụng tinh thần dân tộc, lòng
yêu nước, khát vọng độc lập tự do của nhân dân, đưa ra
chiêu bài giải phóng đất nước, kêu gọi dân chúng theo cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, "đế quốc" Mỹ, để
áp đặt một chế độ độc tài bóc lột khắc nghiệt hơn cả
ngoại bang thực dân. Lợi
dụng khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam để tước
đoạt tự do của người Việt Nam, sử dụng xương máu của
giống nòi để phục vụ quyền lợi đảng phái riêng tư và
quyền lợi của quốc tế cộng sản, là một tội lỗi lịch sử
ngàn năm bia miệng . (còn tiếp)
TRẦN
GIA PHỤNG CHÚ
THÍCH: 44.
Phan Bội Châu niên biểu, đăng
trong Phan Bội Châu toàn tập [gồm
10 tập], tập 6, do Chuơng Thâu sưu
tầm và biên soạn, Nxb. Thuận
Hóa, Huế, 1990, tr. 272. 45.
Nếu theo lịch mới do giáo hoàng Grégoire 13 (giáo nhiệm từ
1572-1585) ban hành, và hiện đang áp dụng trên toàn thế giới,
cuộc cách mạng Nga xảy ra vào ngày 7-11-1917.
Cuộc cách mạng nầy thường được gọi là "Cách
mạng tháng 10" vì lúc đó, Nga chưa dùng lịch Gregoire, vẫn
còn dùng lịch cũ đặt ra từ thời Julius Caesar (102-44 tr.CN).
Ngày 7-11 lịch mới là ngày 26-10 lịch cũ. 46.
Cuộc tranh chấp Nhật Nga bắt đầu từ sau khi Minh Trị thiên
hoàng (trị vì 1868-1912) canh tân nước Nhật và đưa Nhật Bản
lên hàng cường quốc.
Năm 1905, Nhật đại thắng Nga tại Ðối Mã (Tsushima), nằm
trong eo biển giữa Nhật Bản và Triều Tiên.
Do trung gian của Hoa Kỳ, hai bên ký kết hòa ước
Portsmouth, (New Hampshire, đông bắc Hoa Kỳ) ngày 5-9-1905.
Hòa ước nầy thừa nhận ưu thế của Nhật tại Triều
Tiên, đồng thời Nga chịu nhường cho Nhật tất cả những quyền
lợi chính trị và kinh tế ở nam Mãn Châu, kể cả bán đảo
Liêu Ðông (Liaotung) cũng như ở miền nam đảo Saklalin.
Từ đó cho đến khi thế chiến thứ nhì bắt đầu, Nga,
rồi Liên Xô mất dần hết những quyền lợi ở Mãn Châu và
Triều Tiên. 47.
Nguyễn Khánh Toàn, sđd.
tt. 320-321. Những
chữ viết hoa theo nguyên bản.
Dòng in đậm do người viết nhấn mạnh. 48.
Nguyễn Văn Trấn, Viết cho
mẹ & quốc hội, Nxb. Văn Nghệ [tái bản], California, 1995,
tr. 150. Nguyên
văn Nguyễn Văn Trấn viết: "... Bác
Hồ theo Staline mà đặt tên đảng ta là Ðảng Lao Ðộng Việt
Nam... Nghe tới Staline nói thì còn ai hó hé..." 49.
Thành Tín, Mặt thật, Sài
Gòn Press, California, 1993, tr. 67. 50.
Nguyễn Văn Trấn, sđd.
tt. 164-169. Nguyễn
Văn Trấn được cử đi học khóa huấn luyện nầy ở Trung
Hoa.. 51.
Vũ Thư Hiên, sđd. tr.
422, phần chú thích. 52.
Vũ Thư Hiên, sđd. tr.
249. 53.
Mại bản (comprador) : từ ngữ được dùng khi Trung Hoa tiếp
xúc với Tây phương, để chỉ những người
địa phương làm trung gian buôn bán với các doanh nghiệp
nước ngoài. 54.
Trần Dân Tiên, sđd. tr.
113. 55.
Ðề nghị một tòa báo hay một tư nhân nào thử lấy đoạn
văn trên, đừng ghi xuất xứ từ bản tuyên bố ngày 2-9-1945
của Hồ Chí Minh, đặt câu hỏi trắc nghiệm với người Việt
ở ngoài cũng như ở trong nước: "Chúng" là ai? Chắc
chắn kết quả trả lời chữ "chúng" là cộng sản Việt
Nam. |