|
Những dư chấn khi qua nước Trung Hoa Cộng Sản Hà Phương Có những nước tôi đã từng đi qua mà không lưu lại được nhiều hình ảnh sâu đậm, còn với đất nước Trung Hoa, dù tôi đã đến thăm cách đây hai năm mà tôi vẫn còn nhớ rõ để ghi lại những điều mắt thấy tai nghe về một đất nước đang trỗi dậy mạnh mẽ và cả những mâu thuẫn không dễ gì giải quyết của xứ sở này. Những dư chấn về đất nước Trung Hoa cộng sản còn rung lên trong trí nhớ của tôi. *** Mặc dù chúng tôi rất khó chịu khi phải bước qua Ải Nam Quan mà người ta gọi là Hữu nghị quan nhưng khi vào đất nước Trung Hoa chúng tôi phải ngỡ ngàng trước những công trình đồ sộ của ngày xưa và những công trình hoành tráng mới được xây dựng ngày nay trên đất nước Trung Quốc. Sau khi vụ Thiên An Môn lắng xuống, nhiều khách du lịch phương tây đã đến Trung Quốc. Ngoài hướng dẫn viên của tour đi theo đoàn từ Việt Nam thì khi đến mỗi địa phương ở Trung Quốc đều có hướng dẫn viên người bản địa đi kèm để chỉ dẫn những nơi theo lịch trình của tour. Trung Quốc đã đưa ngành du lịch trở thành ngành công nghiệp không khói quan trọng để tăng thêm ngân sách, đồng thời cũng nhằm quảng bá cho chế độ Trung Hoa cộng sản. Đội ngũ hướng dẫn viên của họ được đào tạo khá bài bản, biết khoe những gì họ muốn và khéo dấu đi những gì còn nhem nhuốc trên đất nước của họ. Qua biên giới vài chục cây số, chúng tôi đến Nam Ninh, một thành phố của tỉnh Quảng Tây. Ngay ở đây chúng tôi đã nhìn thấy nhiều công trình kiến trúc đồ sộ mới được xây dựng trong những năm gần đây. Một nhà ga khá lớn trước mặt có một đường hầm rộng rãi dành cho khách vượt qua một giao lộ với những con đường thẳng tắp. Khách sạn Nam Phương là một khách sạn hiện đại. Ngồi trên tầng 22, du khách có thể nhìn toàn cảnh thành phố trong một tiếng khi tầng này quay đủ một vòng. Ở đây có nhiều tháp đẹp như tháp Đầu Phượng, tháp Long Tượng và ngôi chùa Thái Lan do các nhà sư và người Thái từ bên Thái Lan sang xây dựng. Nhiều người dân Trung Quốc đã đến chùa này lễ Phật. Công viên Thanh Tú Sơn là một công viên rộng và đẹp trồng nhiều cây cảnh, có nhiều cây thế được tạo dáng rất khéo. Từ Nam Ninh chúng tôi đi tàu hỏa mất một ngày một đêm mới đến Hàng Châu. Nếu những đoàn tàu xuyên Việt của ta rất chật chội vì những toa nhỏ chạy trên đường ray 1m thì ở Trung Quốc, tàu chạy trên đường ray 1,4m nên toa tàu thật là rộng rãi, ghế ngồi và giường nằm khá thoải mái. Việc đi tàu hỏa cũng là một cái thú để nhìn phong cảnh làng quê xứ người. Anh Ngọc vốn thời chống Pháp có được đưa sang học ở Quế Lâm là người bạn thân cùng đi với tôi theo tour này nói chuyện: - Năm ngoái mình có đi Quảng Châu vì công việc làm ăn, có đến một vài nơi vùng quê xa xôi. Qua những thành phố lớn của Trung Quốc, du khách thường dễ bị choáng bởi những đường phố khang trang, những công trình đồ sộ của họ, nhưng nếu đến những vùng sâu vùng xa thì mới thấy đời sống của nông dân Trung Quốc còn rất khổ, khổ hơn nông dân của mình nhiều. Tôi nhất trí với anh. - Báo chí trên mạng internet chẳng từng đưa tin những chủ lò gạch của con cái những vị quan chức ở Sơn Đông bắt người nông dân làm việc như trâu ngựa đó sao? Tàu chạy rất nhanh và êm, tự nhiên tôi nhớ đến mấy câu thơ của T.H.,một nhà thơ đã viết nhiều bài ca ngợi Trung Quốc: Con tàu đưa tôi đến Trung Hoa Ngày mai tuyệt đẹp ấy là ngày mai nào nhỉ? Có phải là ngày hôm nay ở Trung Quốc thuộc tầng lớp tư sản đỏ của 70 triệu người chiếm 70% GDP, còn trên 1,2 tỷ người chỉ có 30% GDP mà thôi. Hai trăm triệu nông dân đang bị bần cùng hóa nhằm tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt làm giầu cho những nhà tư bản đỏ… Sau một ngày một đêm trên tàu, chúng tôi đến Hàng Châu. Đây là một địa danh mà tôi mong muốn được đến thăm từ lâu vì có nhiều chuyện gần gũi với văn chương Việt Nam với Nguyễn Du và Truyện Kiều. Đây là một thành phố đẹp nổi tiếng, có nền kinh tế phát triển từ ngàn xưa. Hàng Châu có nghề dệt tơ lụa không nơi nào sánh kịp. Con đường tơ lụa bắt đầu từ đây. Người ta chuyển tơ lụa từ Hàng Châu xuyên Ấn Độ đến Ba Tư và sang cả châu Âu. Hàng Châu còn là mảnh đất mầu mỡ của thơ ca và tiểu thuyết Trung Hoa với Tây Hồ và sông Tiền Đường đã in dấu vào văn chương. Tây hồ chỉ rộng 6km2 nhưng cảnh vật rất thơ mộng với mặt nước trong xanh. Xung quanh hồ là những hàng liễu rủ mơ màng, những cây phong lá đỏ như những đôi môi hồng của thiếu nữ trong nắng sớm ban mai. Trong khuôn viên hồ có một ngôi đền thờ Nhạc Phi, người anh hùng chiến công lừng lẫy nhưng đã bị Tần Cối giết hại. Ở đây người ta dựng tượng Nhạc Phi quắc mắt nhìn Tần Cối. Cái ác của kẻ nắm quyền lực đã bị đóng đinh vào lịch sử. Nào đâu công lý ở đời Rời khỏi ngôi đền với những cảnh tượng bi tráng ấy, hướng dẫn viên đưa chúng tôi qua một chiếc cầu gỗ để đến một doi đất nổi gần giữa hồ có một lầu ngắm cảnh được tạo dựng từ ngày xưa. Nguyên là một giáo viên dạy văn nên tôi rất chú ý quan sát xung quanh hồ, tìm một mảnh đất hoang vu nơi có ngôi mộ của nàng Tiểu Thanh. Tiểu Thanh tài sắc hơn người đã bị người vợ cả hành hạ đến chết. Nàng chết rồi, người vợ cả còn đem đốt cả tập thơ của nàng. May mà ngọn lửa chưa tém hết nên người đời sau mới còn lưu giữ được một số bài của nàng. Khi đi sứ Trung Quốc, Nguyễn Du đã đến đây thương cảm người con gái bạc mệnh ấy: Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang Đặc biệt hai câu kết của bài thơ, Nguyễn Du còn gửi gấm tâm sự chính cuộc đời mình cho hậu thế: Bất tri tam bách dư niên hậu Không phải đợi đến ba trăm năm mà mới nửa thời gian ấy thôi những người yêu văn chương nước nhà đã hiểu được nỗi đau nhân tình của Nguyễn Du qua bài Đọc Tiểu Thanh Ký và nhất là qua Truyện Kiều bất hủ mà Nguyễn Du ký thác tâm sự: “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Tôi và anh Ngọc đã đứng lặng bên bờ sông Tiền Đường trong một buổi chiều tà mưa bụi bay khi đoàn du lịch đến thăm tháp Lục Hòa tọa lạc trên một quả đồi bên sông Tiền Đường. Nàng Kiều đã trẫm mình trên dòng sông này đây. Đúng ra Truyện Kiều đã có thể kết thúc ở đây rồi. Số kiếp bởi sao mà lận đận Mưa mỗi lúc một nặng hạt như những giọt nước mắt của bao người thương sót nàng Kiều đang rơi xuống dòng sông này. Hai chúng tôi trở lên tòa tháp cùng mọi người trong đoàn đợi ngớt mưa, rồi bỗng dưng một “hội nghị” bàn tán về Truyện Kiều diễn ra sôi nổi. Anh kỹ sư vốn người Tràng An thanh lịch lại có giọng rất bỗ bã: - Truyện Kiều hay thì hay thật nhưng kém giá trị đi khi Nguyễn Du dựa hẳn vào một câu chuyện của Tàu. Máu nghề nghiệp bốc lên, tôi liền hăng hái giải trình ý kiến của mình: - Đúng là Truyện Kiều có dựa vào Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du không phiên dịch mà Cụ chỉ dựa vào đó mà nhào nặn lại, sáng tạo lại. Truyện Kiều của Trung Quốc bằng văn xuôi, chỉ là một cuốn truyện bình thường không mấy người để ý. Còn Truyên Kiều của Nguyễn Du là bằng thơ. Tài thơ của Nguyễn Du đã đưa Truyện Kiều trở thành một tác phẩm bất hủ mang cái “quốc hoa ,quốc hồn, quốc túy” của người Việt Nam như ông Phạm Quỳnh đã từng khẳng định. Xin các bạn nhớ cho nền văn hóa của ta chịu ảnh hưởng rất nặng nề của nền văn hóa Trung Hoa. Chữ hán của Trung Quốc lan tỏa sang nhiều nước quanh vùng như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Kiểu chữ vuông tượng hình của chữ Hán là cơ sở của chữ nôm Việt Nam, chữ Triều Tiên và cả chữ của Nhật Bản nữa. Thấy mọi người lắng nghe, tôi hào hứng nói tiếp: - Trên thế giới chuyện giao thoa giữa các nền văn hóa thường xuyên diễn ra. Chữ Latinh là cội nguồn chữ viết của hàng loạt các nước châu Âu. Cô Lọ Lem của Pháp, Ba hạt dẻ của Đức về dì ghẻ con chồng không khác mấy Truyện Tấm Cám của ta. Ngay trong văn học viết thì mấy tác phẩm lớn của đại văn hào Sêch Pia như Ôtenlô, Hămlet cũng dựa vào mấy truyện của nước ngoài. Ôtenlô là dựa vào một câu truyện của Ý còn Hămlet thì dựa vào một câu truyện của Đan Mạch. Vì vậy Truyện Kiều xứng đáng là một tác phẩm bất hủ của văn học Việt Nam. Mưa đã tạnh, hướng dẫn viên du lịch mời mọi người lên xe cũng là lúc thành phố Hàng Châu lên đèn rực rỡ. Riêng con sông Tiền Đường thì cảnh vật chìm dần trong bóng đêm.như số phận của người dân dưới chế độ bạo tàn Sáng hôm sau chúng tôi đến Thượng Hải bằng xe ô tô du lịch 40 chỗ ngồi do Trung Quốc chế tạo. Xe đẹp nhưng máy nổ không được êm và đi hơi sóc. Phải mất 6 tiếng đồng hồ xe mới tới khách sạn loại 3 sao dành cho khách du lịch bình dân. Nếu trước kia Shanghai đứng hàng thứ ba thế giới sau New York và London thì dưới chính quyền cộng sản thời Mao, nó bị tụt hẳn xuống nhưng từ khi Trung Quốc mở cửa theo kinh tế thị trường thì Thượng Hải lại vươn lên mạnh mẽ, trở thành một thành phố nguy nga hiện đại. Thành phố này nằm ở cửa sông Dương Tử nên có điều kiện phát triển sớm. Hiện nay thành phố có 18 triệu dân với nhiều công trình đồ sộ. Qua đường hầm nằm sâu dưới lòng sông, du khách được đến thăm Phố Đông là một khu phố hiện đại mới được xây dựng khi Trung Quốc bước vào cải cách. Ở đây có tháp truyền hình Minh Châu cao tới 468m chỉ sau tháp truyền hình ở New York và ở Canada. Khoang tháp thứ hai cao 263m với một sân rộng cho phép du khách ngắm nhìn toàn cảnh thành phố qua nhiều ống nhòm đặt ở các góc sân. Về đêm, tháp sáng lung linh bởi những đèn màu rực rỡ soi bóng xuống dòng sông Hoàng Phố mà tàu bè ra vào tấp nập. Thượng Hải ít cây xanh mà san sát những khối nhà bê tông cao tầng, dễ tạo một cảm giác bức bối. Nhà cửa ở đây phần nhiều kiến trúc theo kiểu phương Tây. Trước đây liên quân tám nước trong cuộc chiến tranh nha phiến đã đến nơi này buộc triều đình nhà Thanh phải mở cửa để người châu Âu xâm nhập vào thị trường Trung Quốc. Nhiều nước đã khoanh vùng thành tô giới chiếm cứ và đưa dân của họ đến đây,. Họ xây dựng nhiều tuyến phố theo kiến trúc của họ, tạo cho Thượng Hải thành một thành phố đa dạng và Thượng Hải là thành phố được toàn cầu hóa khá sớm. Khi đoàn chúng tôi vừa tới Thượng Hải, một công trường khổng lồ đập ngay vào mắt, đó là khu triển lãm hàng hóa lớn nhất thế giới đang được xây dựng và sẽ hoàn thành vào năm 2010. Phụ nữ trong đoàn rất thích đến khu phố Nam Kinh là khu phố sầm uất nhất Thượng Hải với những cửa hàng sang trọng, hàng hóa cao cấp được bày bán khắp nơi. Nếu hàng hóa Trung Quốc thường bị chê là kém chất lượng và hàng nhái hàng rởm quá nhiều thì hàng hóa có xuất xứ từ Thượng Hải lại rất có chất lượng và giá không rẻ chút nào; nhưng làm thế nào để phân biệt được hàng Thượng Hải thì chỉ những người sành mới biết rõ. Ngày trước phụ nữ Thượng Hải ăn mặc rất thanh lịch. Họ đến Hà Nội và Hải Phòng là mọi người nhận ra ngay. Với chiếc váy áo màu trang nhã, tay ngắn sát nách, dưới váy sẻ hai đường dọc chỉ đến đầu gối kín đáo phô cặp chân trắng ngần thì ngày nay đi dạo phố Thượng Hải, du khách gặp nhan nhản những cô gái váy ngắn quá mức hoặc những chiếc quần bò lộ cả mông và trễ quá rốn. Cái xứ sở của đạo Khổng đã biến đổi trong “bốn hiện đại” rất nhanh. Tạm biệt Thượng Hải, xe đưa chúng tôi đến Tô Châu. Đường quốc lộ của Trung Quốc rất rộng, thoáng đãng, rất ít nhà nằm sát ven đường để bày bán những hàng hóa tạp pí lù như ở ta. Họ xử rất nghiêm những trường hợp lấn chiếm nên quy hoạch của họ gọn gàng, đương xá phong quang. Tô Châu không có nhiều di tích lịch sử văn hóa nhưng phụ nữ Tô Châu lại rất đẹp. Trung Quốc có những mỹ nhân nổi tiếng như Tây Thi, Dương Quý Phi, Bao Tư…. mà nhiều người đẹp Trung Quốc lớn lên từ Tô Châu. Không về khách sạn ngay mà xe đưa chúng tôi đến thăm Đôì Hổ. Đây là một quả đồi rộng có hào nước bao quanh với những cây cổ thụ mấy trăm năm tuổi, có nhiều ngôi lầu được xây dựng từ xưa. Ở đây có một tòa tháp cổ đã bị đổ nhưng còn giữ được nền móng và bức tường vẫn đang “trơ gan cùng tuế nguyệt”.Buổi chiều chúng tôi đi thăm hai địa danh khác của Tô châu Hàn Sơn tự và Lưu Viên trông không rộng lớn nhưng cũng hấp dẫn khách tham quan bởi những tảng đá tự nhiên hình thù gợi cảm và những cây thế được uốn tỉa công phu như những bài thơ Đường trầm mặc. Rất tiếc phải chia tay cô hướng dẫn viên người Tô Châu cao ráo, duyên dáng khi chúng tôi rời Tô Châu để đến Nam Kinh. Nam Kinh từng là thủ đô của sáu triều đại phong kiến Trung Hoa và là thủ đô của nước Trung Hoa Dân Quốc do Tôn Dật Tiên khai sáng và Tưởng Giới Thạch kế vị. Nam Kinh là điểm nhấn khi lịch sử Trung Quốc sang trang. Đến Nam Kinh là phải qua cầu Trường Giang bắc qua sông Hoàng Hà, một con sông lớn nhất Trung Quốc. Cầu Trường Giang được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ XX do Trung Quốc tự thiết kế, thi công; sự trợ giúp của Liên Xô không nhiều. Đây là cây cầu không đẹp nhưng rất lớn với hai tầng cầu; tầng dưới là hai đường xe lửa, tầng trên là đường dành cho ô tô. Ở hai đầu cầu, trên hai trụ bê tông người ta treo ảnh Mao Trạch Đông. Ngày hôm sau, theo lịch trình của tour, đoàn đén thăm lăng Tôn Trung Sơn, phủ tổng thống và Mỹ Linh cung. Tôn Trung Sơn với chủ nghĩa tam dân (dân chủ, dân quyền, dân sinh), đã lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 thành công, nhà nước Trung Hoa Dân Quốc được thành lập. Tiếc rằng Tôn Trung Sơn mất quá sớm (năm 1925), sau đó Tưởng Giới Thạch kế vị lãnh đạo Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Nhân dân Trung Quốc rất kính trọng Tôn Trung Sơn bởi ông là người đã đặt dấu chấm hết cho chế độ phong kiến Trung Hoa tồn tại tới 2000 năm. Để tưởng nhớ Tôn Trung Sơn, người ta đã xây dựng một khuôn viên lăng rất lớn. Khuôn viên rộng còn lăng mộ được đặt trên một ngọn đồi cao. Lăng không hoành tráng nhưng uy nghi. Gian tiền sảnh hai mái cong lợp ngói trồng lên nhau. Giữa gian là một tấm bia lớn ghi công đức của Tôn Văn. Phía sau gian tiền sảnh, qua một cái sân rộng,lên cao nữa là lăng mộ. Người đến viếng rất đông nhưng không ai thắp hương vì Tôn tiên sinh là người của thời kỳ hiện đại. Phủ tổng thống, nơi Tôn Trung Sơn đã từng ở đó, là những tòa nhà cổ kính nối với nhau bằng những hành lang chạy dài có mái che, xung quanh là những vườn hoa rợp bóng cây xanh. Ở phủ tổng thống này, tiếp tục sự nghiệp của Tôn Trung Sơn là tổng thống Tưởng Giới Thạch, một người vừa là học trò vừa là anh em đồng hao với Tôn Trung Sơn. Tưởng tuy cũng có tài nhưng không có uy và nhiều lúc thiếu bản lĩnh của một nguyên thủ quốc gia. Tưởng đã từng bị hạ cấp của mình bắt giữ, tuy không dài nhưng làm ông bị sói mòn ảnh hưởng. Ông lại rất tin vào thuyết phong thủy nên đã sai quân đi tìm mộ tổ của Mao Trạch Đông để đào lên nhưng không thành. Ông là người được Staline rất quan tâm, muốn đưa ông vào vòng ảnh hưởng của Liên Xô. Lúc đầu ông cũng muốn kết thân với Liên Xô nên đã cho con trai sang học ở đất nước Sô viết nhưng sau khi đi thăm Liên Xô trở về, thấy rõ xã hội Liên Xô chỉ như một trại lính. Vì chủ nghĩa cộng sản không có điểm tương đồng với chủ trương Tam Dân của Tôn Trung Sơn nên ông đã tìm cách cắt đứt mối quan hệ với Liên Xô và ra mặt chống đảng cộng sản Trung Quốc. Khi tiến hành cuộc chiến tranh chống Nhật, ông buộc phải hợp tác với đảng cộng sản Trung Quốc để rồi rút ra bài học thấm thía khi phải bỏ đại lục chạy ra Đài Loan: “Đừng bao giờ hợp tác với cộng sản” Rời phủ tổng thống, đoàn chúng tôi đến thăm Mỹ Linh cung. Mỹ Linh là ai vậy? Đó là phu nhân tổng thống Tưởng Giới Thạch. Cuộc hôn nhân giữa Mỹ Linh Và Tưởng Giới Thạch là do bà Tống Khánh Linh (phu nhân của Tôn Trung Sơn) , người chị hai của dòng họ Lý tạo dựng. Nhà họ Lý, thương gia giầu có thời đó, có ba cô con gái được gia đình cho sang Mỹ du học và sau này đều là những người nổi tiếng. Chị cả Tống Áí Linh lấy chồng là một thương nhân giầu có làm ăn ở Mỹ. Tống Khánh Linh là chị hai, kết hôn với Tôn Trung Sơn, sau này nhà nước cộng sản Trung Hoa khéo léo đưa bà lên chức phó chủ tịch nước …hờ và bà suýt mất mạng trong cách mạng văn hóa. Còn Tông Mỹ Linh, người con gái út tài sắc vẹn toàn nhưng rất ham quyền lực. Chính tài ngoại giao của bà đã cứu được Tưởng ra khỏi vụ tướng lĩnh bắt cóc Tưởng và khi Tưởng bị đánh bại phải chạy ra Đài Loan thì chính Mỹ Linh đã tạo nên chiếc cầu nối hữu hảo với Mỹ để Mỹ dốc lòng bảo trợ cho Đài Loan trước nanh vuốt của đảng cộng sản Trung Quốc. Bà mất ở Mỹ, thọ tới 106 Ở Trung Hoa lục địa, Mao không trả thù Tưởng tuy biết Tưởng đã từng tìm kiếm mả tổ mình.Mao cho giữ nguyên mộ tổ Tưởng và để nguyên Mỹ Linh cung là nơi ở của vợ chồng Tưởng .Mặc dù Mao là người dâm ô và tàn bạo nhưng trong việc này Mao là người khôn ngoan. Mỹ Linh cung do chính Mỹ Linh thiết kế, kết hợp hài hòa giữa kiến trúc phương đông và kiến trúc phương tây. Đó là một biệt thự bốn tầng mái cong lợp ngói lưu ly; các cửa sổ hình chữ nhật đứng. Tiền sảnh có bốn cột đỡ tròn sơn đỏ với mái ngói cong lên, đặc thù của kiến trúc Trung Quốc ngày xưa. Ở trước tiền sảnh người ta vẫn giữ nguyên chiếc xe ô tô sang trọng do Mỹ sản xuất mà trước đây chính Mỹ Linh đã tự lái. Trong các phòng ăn, phòng ngủ, phòng tiếp khách, mọi đồ đạc vẫn được bày biện và bảo quản đúng như khi Mỹ Linh ở đó. Xung quanh biệt thự, trong một khuôn viên thoáng đãng là những cây đứng u trầm, gió rung làm những chiếc lá vàng rơi xào xạc. Từ Nam Kinh đến Bắc Kinh, chúng tôi lên tàu hỏa vượt một chặng đường xa. Bắc Kinh có hai nhà ga lớn mới được xây dựng, một ở phía bắc và một ở phía nam. Cả hai nhà ga này đều hoành tráng, nằm trong một hệ thống liên hoàn. Bắc Kinh nằm ở vùng phía bắc của đồng bằng Hoa Bắc, phía sau dựa lưng vào núi, phía bắc nhìn ra biển với số dân gần 15 triệu người. Trước đây Bắc Kinh có tên là Bắc Bình, là thủ đô của nhiều triều đại. Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tuyên bố thành lập tại đây và đổi tên Bắc Bình thành Bắc Kinh. Từ Tử Cấm Thành đến Thiên An Môn, Bắc Kinh đã mang trong mình biết bao biến cố và những bí ẩn của lịch sử Trung Hoa. Tử Cấm Thành còn gọi là Cố Cung, là nơi ở và thiết triều của các hoàng đế Trung Hoa. Đây là một hệ thống cung điện được làm bằng gỗ lớn nhất thế giới với 9990 gian phòng to nhỏ khác nhau trên một diện tích 720.000m2 với bốn cửa ra vào, nằm ở phía nam quảng trường Thiên An Môn. Bao quanh Cố Cung là một bức tường thành cao tới 10m và có một con hào lớn chạy quanh phía ngoài, sâu tới 5m và rộng 53m. Bốn cửa đông, tây, nam, bắc có bốn chiếc cầu lớn bắc qua. Cung điện đồ sộ này được bảo tồn hoàn chỉnh nhất. Nó được xây dựng vào đời nhà Minh trong 18 năm liền, là nơi ngự trị của 24 đời vua của nhà Minh và nhà Thanh. Anh chị em trong đoàn chúng tôi dù đi nhanh cũng phải mất nửa ngày mới lướt được qua phía ngoài các gian, các phòng, các tòa cung điện lớn nhỏ khác nhau. Thiên đàn trong Cố Cung là nơi để các hoàng đế tế trời, sừng sững uy nghi. Mùa hè, Bắc Kinh nóng như đổ lửa mà chúng tôi vẫn mải miết tham quan. Trở ra khỏi cửa Thái Hòa để sang quảng trường Thiên An Môn, chúng tôi nhìn thấy nhiều con sư tử đá đặt gần tường thành,có một con sư tử đực rất to đạp chân lên một quả cầu. Ngước mắt nhìn lên trên cửa ra vào là thấy một bức ảnh lớn của Mao, nét mặt lạnh lùng nhìn mọi người qua lại. Thực ra Trung Quốc không phải là đất của sư tử. Sư tử chỉ có ở châu Phi. Ngày xưa, qua con đường tơ lụa, một nước ở Phi châu đã mang biếu hoàng đế nhà Minh con vật dũng mãnh này. Ở chốn rừng sâu, sư tử là chúa tể, điều ấy rất hợp với cuồng vọng của các hoàng đế Trung Hoa. Vì vậy ở những nơi trang trọng, người Trung Quốc thường đặt tượng những con sư tử, và ngày nay, con sư tử phương đông đã tỉnh giấc, đang vươn vai…,thế giới hãy coi chừng ! Liền kề với Cố Cung là quảng trường Thiên An Môn rộng tới trên 50 ha có sức chứa trên 50 vạn người cũng lại là quảng trường lớn nhất thế giới. Thiên An Môn có nghĩa là cổng vào nơi an bình, nhưng thần dân Trung Quốc dưới triều đại cộng sản có bình yên không nhỉ? Không! Vào đêm mồng 3 tháng 6 năm 1989, năm chục chiếc xe tăng của quân đội đã nghiền nát hàng nghìn học sinh, sinh viên Trung Quốc trên chính quảng trường lịch sử này chỉ vì cái tội dám biểu tình đòi tự do dân chủ. Kẻ chủ trương tàn sát sinh viên là Đặng Tiểu Bình người đã từng ra lệnh đưa quân Tầu tràn qua biên giới VN tháng 2/1979 Đối diện với Cố Cung ở một phía của quảng trường là hai tòa nhà song song với nhau: nhà tưởng niệm Mao và Đại lễ đường Trung Quốc. Người ta không ướp xác Mao mà chỉ xây nhà tưởng niệm thôi. Còn tòa nhà Đại lễ đường là dành cho Hội nghị chính trị hiệp thương (quốc hội). Phòng họp lớn của Đại lễ đường cũng rộng mênh mông, đủ sức chứa cả vạn người, được xây dựng từ khi Mao còn sống. Người Trung Quốc từ cổ xưa đều thích cái gì cũng lớn cho phù hợp với kích cỡ dân tộc mình. Chế độ cộng sản càng thích cái gì cũng vĩ đại hơn người với mộng tưởng muốn làm bá chủ thế giới: đại bá. Vì vậy ở Trung Quốc, đến đâu cũng gặp “đại”. Nào là đại quảng trường, đại lễ đường,…,cho tới đại nhảy vọt, đại cách mạng văn hóa,… và: Mao chủ tịch, người cầm lái vĩ đại,…,đảng cộng sản Trung Quốc vĩ đại muôn muôn năm,…Đúng là nhiều “đại” thật, chỉ riêng có tự do dân chủ và nhân quyền là “tiểu” mà thôi! Nếu đứng ở quảng trường Thiên An Môn dưới trời nắng chói chang với bao điều bức xúc thì sáng hôm sau đến Di Hòa Viên, tâm hồn tôi dịu hẳn lại trước một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng. Di Hòa Viên cách Bắc Kinh 15km, rộng mênh mông với diện tích 290ha, có hồ, có suối, có đồi cây xanh, có những vườn hoa thật đẹp. Trước kia, đây là cung mùa hè của Từ Hy Thái hậu, từng được vua Càn Long trùng tu mở rộng, sau này trở thành một đại công viên. Chỉ riêng hành lang có mái che ven hồ cũng dài tới 1km mà ở đó người ta treo nhiều bức tranh, vẽ những sự tích của người xưa. Không tour nào đưa khách đi hết được công viên vì thời gian của mỗi tour chỉ có hạn. Ngày cuối cùng ở Trung Quốc, chúng tôi đi thăm Vạn Lý Trường Thành. “Bất đáo Trường thành phi hảo hán”, câu này không biết có phải là của Mao không nhưng đã làm cho chúng tôi hăm hở đến Trường Thành. Vạn Lý Trường Thành chỉ cách Bắc Kinh 80km, là một công trình phòng thủ quốc gia vĩ đại nhất, dài tới 6000km, được xây dựng từ đời nhà Tần, đến mãi cuối đời Minh mới hoàn thành. Đây là công trình duy nhất thấy được từ vệ tinh bằng mắt thường. Mặc dù chân bị đau do một tai biến bất thường từ khi lên xe đi Trung Quốc đến hôm đó vẫn chưa khỏi, tôi vẫn cố leo qua nhiều bậc thang để lên đến tháp canh thứ nhất của Vạn Lý Trường Thành cho thỏa chí tang bồng. Vạn Lý Trường Thành là một con đường xây cao, nối đỉnh núi này với đỉnh núi khác. Nó được xây bằng đá và gạch cắt từ đá ra, màu xám rêu phong, chiều rộng đủ sức cho hai hoặc ba con ngựa chạy song song, chiều cao khoảng 20m. Ở mỗi điểm cao khi vắt qua núi có một tháp canh, còn điểm thấp ở chân núi là những lều trại cho quân lính đồn trú. Đó là tử huyệt nếu quân thù kéo tới. Khi có báo động, lửa sẽ được đốt lên, nối tiếp nhau từ tháp canh này đến tháp canh khác trên các đỉnh núi. Sau thời Chiến quốc đánh nhau loạn xạ, Tần Thủy Hoàng thống nhất quốc gia và cho xây dựng con đường kỳ lạ này nhằm ngăn chặn sự quấy nhiễu của các nước lân bang. Trong hàng trăm năm, hàng chục triệu người đã phải rời bỏ quê hương đến đây lao động khổ sai dưới roi vọt. Hàng vạn người đã bỏ xác nơi đây, có người sau 20 năm mới được trở về nhà. Có phải dân đông, chế độ bạo tàn, coi mạng người dân như cỏ rác, là “đặc sắc Trung Hoa “ hay không? Thế nhưng bức tường thành vĩ đại này cũng không ngăn nổi vó ngựa xâm lăng của quân Mông Cổ, Trung quốc đã bị Mông Cổ chiếm đóng và lập nên triều đại Nguyên Mông. Khi hoàng hôn buông xuống, chúng tôi mới rời Trường Thành trở về Bắc Kinh. Dù đã muộn, hướng dẫn viên người Bắc Kinh vẫn đưa đoàn khách ghé vào Đông Nhân Đường, một cửa hiệu thuốc bắc lớn. Ở đây kê đơn, bắt mạch miễn phí nhưng để kéo lại, giá thuốc lại cực đắt. Đắt thế nhưng hiệu quả ra sao thì…”hãy đợi đấy”! Đêm cuối cùng ở Bắc Kinh là đêm tự do. Tôi với nhạc sĩ Ngọc cận rủ thêm một người bạn nữa đi dạo phố. Sau khi đã cẩn thận cầm tấm carte visite của khách sạn để nếu không nhớ đường thì còn biết cách mà về. Đêm Bắc kinh thật là náo nhiệt, ngoài phố đèn màu từ các cửa hiệu ánh lên rực rỡ. Xe ô tô con nối đuôi nhau chạy vun vút. - Này! nghe nói Bắc Kinh nổi tiếng với món vịt quay, chúng ta vào một tiêm ăn cho biết đi. Hảo, bạn tôi hưởng ứng ngay. Chúng tôi rẽ vào một phố cổ mà những tầng lầu đều làm bằng gỗ, cột sơn đỏ choét, mái cong vênh. Biết tôi thích uống rượu, Ngọc cận gọi một chai Mao Đài và một con vịt quay. Nếu đúng là vịt quay Bắc Kinh do người đầu bếp Bắc Kinh làm thì món vịt này không thể chê được. Ngồi lai rai trong một phòng hẹp, chúng tôi luận đàm về cái thú ẩm thực của người Trung Hoa. Tôi “bốc” trước: - Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật chẳng là cái tiểu… chí của cánh đàn ông nước Nam mình đó sao ? Cơm Tàu họ làm rất cầu kỳ. Vào tiệc, họ không bày đủ các món ra ngay đâu mà chậm rãi đưa từng thứ một nóng hổi mang ra mời khách. Anh nào không biết, háu đói, chén đẫy ngay từ đầu là các món sau đành gác đũa. Anh Hảo sau khi đưa lên miệng một chén rượu trong suốt mà rất thơm, bảo chúng tôi; - Các ông đã nhìn thấy bữa tiệc óc khỉ của các a cố chưa? Con khỉ bị trói chặt trong lồng, mắt lấm lét nhìn mọi người thì người ta bổ một nhát dao vào đỉnh đầu, tách ra cho muôi vào múc óc. Tôi đã thấy ghê ghê thì Ngọc cận lại nói tiếp sang đại tiệc bê. Con bê non được cạo lông cẩn thận, sạch sẽ, được đặt trên một chiếc bàn, bốn chân bị nhét xuông bốn cái lỗ ở mặt bàn làm nó không cựa quậy được. Cứ sau một tiếng trống, thực khách cầm một con dao bàu rất sắc xẻo một miếng tùy thích rồi đưa cho đầu bếp đứng bên cạnh, bỏ vào lò nướng ngay cạnh đó. Tôi đã vào mạng internet nên biết một kiểu ẩm thực của người Quảng Đông còn rùng rợn hơn nhiều. Nếu ai muốn biết người Tàu ăn thịt trẻ con thì hãy đến Quảng Châu, phố Đài Sơn, thành phố Phật Sơn, sẽ có món canh thai nhi. Có điều không phải lúc nào cũng có mà phải đặt hàng trước [với giá khoảng từ 3000 đến 4000 tệ (1 tệ = 20.000 VNđ)] bởi nhà hàng còn phải tìm kiếm. Có những người phụ nữ nông dân có thai năm, sáu tháng, đã có một con rồi, đang cần tiền, thế là họ bán cái thai sống đó với giá 1000 tệ có khi chỉ 500 tệ. Chao ơi, nói về cái thú ẩm thực của người Trung Hoa thì còn nhiều chuyện rùng rợn nữa. Có lẽ những cái thú quái chiêu này họ cũng nhất thế giới. Chúng tôi về đến khách sạn thì đã khuya; lúc đi ngang qua phòng anh chị Minh thì thấy một cô gái váy ngắn, áo sát nách, rộng cổ trông rõ cả bầu vú, từ cửa phòng bước ra, nói to như cãi nhau. Tôi hỏi anh Ngọc, người biết tiếng Hoa, vì anh đã từng học ở Quế Lâm: - Cô ấy có vẻ giận giữ và nói liến thoắng cái gì vậy? - À, cô ấy bảo anh Minh: “Đã đi du lịch mà còn bần tiện, mang cả của nhà đi dùng”. Sáng hôm sau ngồi uống cà phê chờ xe đến đưa ra ga xe lửa, tôi hỏi anh Minh: - Sao hôm qua nó lại bảo là anh bần tiện? - Tối qua, lúc nó đến gõ cửa thì đã khuya rồi, tớ ra mở cửa. Tưởng có việc gì, vợ tớ cũng ra theo. Trước đó độ nửa giờ có chuông điện thoại, nhấc máy nghe toàn tiếng con gái Tàu, chẳng hiểu nó nói gì thì lúc các ông đi chơi về, nó gõ cửa phòng làm bà xã tớ điên lên. Các cậu bảo nó nói tớ bần tiện là như thế nào? Anh Ngọc cười và nói toáng lên: “Cô ấy bảo là ông bần tiện vì mang cả đồ nhà đi dùng đấy!” Mọi người được mẻ cười vui vẻ. Ở các khách sạn Trung Quốc, cứ khoảng gần nửa đêm, các phòng ở của cánh đàn ông thế nào cũng có chuông điện thoại réo hoặc tiếng gõ cửa phòng. Ai cần mở cửa, xin mời… Hay nhỉ, ở nước Trung Hoa thừa đàn ông thiếu đàn bà mà cũng có nhiều gái điếm thế ư? Thì ra, tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, tệ nạn xã hội này đâu có của riêng ai. Lên tàu để về thẳng Nam Ninh, chúng tôi mới có thời gian trao đổi với nhau, sơ kết chuyến đi. Qua một số thành phố và địa danh nổi tiếng của Trung Quốc, phải thừa nhận rằng, từ sau khi Trung Quốc bình thương hóa được quan hệ với Mỹ, có ghế ở Hội đồng bảo an LHQ và ngả theo kinh tế thị trường, nhất là từ khi được Anh trao trả Hồng Kông thì Trung Quốc phát triển rất nhanh. Đây mới là thời kỳ đại nhảy vọt của Trung Quốc. Chỉ với khoảng 30 năm mà Trung Quốc đã tiến rất nhanh. Cũng thời gian ấy, chúng ta còn tiến ì ạch lắm. Phải làm sao chúng ta tiến mạnh lên thì Việt Nam mình mới đỡ bị Trung Quốc o bế, đừng dại gì tin vào tinh thần vô sản quốc tế của họ. Chinh Việt Nam đã tạo đà thuận lợi cho Trung Quốc rất nhiều và cũng tạo điều kiện cho họ đại nhảy vọt. Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc được giải phóng, chúng ta đã trở thành tấm lá chắn cho Trung Quốc ở phía nam. Cuộc chiến tranh với Mỹ đã giúp Trung Quốc vươn lên. Bị sa lầy ở miền Nam, bị rơi vào con đường hầm không lối thoát, Ních Xơn buộc lòng phải bắt tay với Trung Quốc, đồng thuận cho Trung Quốc vào Hội đông bảo an LHQ thay thế Đài Loan. Mỹ và đồng minh phương tây ồ ạt đầu tư vào Trung Quốc.Mỹ muốn TQ kiềm chế VN Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam rất nhiều nhưng Việt Nam cũng giúp Trung Quốc bằng xương máu của người Việt không ít, khi Trung Quốc muốn chống Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Thế mà tháng hai năm 1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam tàn phá sáu tỉnh biên giới phía bắc của chúng ta. Và ngay khi chúng tôi đang đi du lịch Trung Quốc thì “bạn” ta vẫn đang ra sức xâm lấn biên cương trên đất liền và biển đảo của chúng ta. Khi chúng tôi đến Trung Quốc, lúc qua Ải Nam Quan, tôi phải đi nhanh để theo kịp đoàn nên không có thời gian quan sát kỹ vùng địa đầu Tổ Quốc với bao điều ngang trái. Lúc về,chúng tôi mới có điều kiện để nhìn nhận sự việc một cach rõ ràng hơn. Ải Nam quan thuộc chủ quyền Việt Nam từ xa xưa rồi. Hiệp định biên giơi giữa Pháp và triều đình Mãn Thanh đã xác nhận rõ điều ấy. Khi đổi tên là Hữu nghị quan thì Trung Quốc đã đặt cửa khẩu vào sâu nội địa Việt Nam tới 500m. Thật ra mưu đồ lấn chiếm của Trung Quốc đã có từ lâu rồi. Lúc chúng ta khôi phục tuyến đường sắt Hà Nội-Lạng Sơn và thành lập tuyến đường sắt liên vận quốc tế nối Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, Trung Quốc đã kéo dài đường ray rộng 1,4m sang phía Việt Nam quá nửa cây số mà chúng ta đã không kiên quyết ngăn chặn bởi khi đó đảng L ao động VN (Đảng CS ) đã quá coi trọng mối quan hệ hai nước ”vừa là đồng chí vừa là anh em”nên đã để cho đất đai của tổ tiên để lại bị bạn xâm chiếm. Khu thác Bản Giốc ở Cao Bằng cũng bị ông bạn chiếm gần hết. Nam Quan đó núi đứng ngậm ngùi Vì thế chuyến đi Trung Quốc của tôi buồn nhiều hơn vui. Vui là vui gượng kẻo là Hè 2007 |